VinaChem
Đang tải dữ liệu...
 
 Check mail | Sơ đồ site | English 
Trang chủ
 
Giới thiệu
 
Tin tức
 
Sản phẩm & Dịch vụ
 
Dự án
 
Đảng, Đoàn thể
 
Tra cứu
 
Xuất bản phẩm
 
Công bố thông tin
Tạp chí CN Hoá chất | Thông tin KT và CN Công nghiệp HC | KQ Đề tài NC và AD tiến bộ KHCN | Xuất bản phẩm khác
Chào mừng 45 năm Ngày truyền thống Ngành Hóa chất (1969 - 2014)
Số 11_2000
Sử dụng quặng photphorit nghèo trong sản xuất phân bón NPK

Theo các chuyên gia thổ nhưỡng Nga, hàng năm nước Nga cần tới một lượng vật liệu chứa lân tương đương 4 - 5 triệu tấn photpho để sản xuất các loại phân lân khác nhau. Hiện nay nước Nga đứng hàng thứ 3 trên thế giới về quặng photphat tự nhiên (khoảng hơn 1 tỷ tấn tính theo P2O5). Với lượng quặng này, Nga có thể khai thác và sản xuất phân lân hàng trăm năm. Từ trước tới nay người ta vẫn chỉ dùng tinh quặng để sản xuất axit photphoric và phân lân.

Ngoài trữ lượng quặng giầu tại Nga còn nhiều mỏ photphorit nghèo. Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành công nghiệp hóa học Nga hiện nay là tìm ra công nghệ hợp lý tận dụng loại quặng nghèo này để sản xuất phân bón.

Đặc tính của tinh quặng photphorit tuyển nổi từ quặng của một số vùng mỏ của Nga là có khả năng giữ độ hoạt tính của các loại photphat trong thời gian tương đối dài, điều này cho phép một số hợp chất photpho tự nhiên mà cây khó hấp thụ dần dần biến thành loại dễ hấp thụ. Bột photphorit khá rẻ nhưng việc sử dụng chúng lại có nhiều điều hạn chế. Một trong những hạn chế là chúng chỉ có thể sử dụng ở những vùng đất chua và độ ẩm cao. Ngoài ra do photphorit ở dạng bột mịn nên việc vận chuyển khó khăn và lượng P2O5 thất thoát khá lớn.

Để tăng khả năng hấp thụ về mặt nông hóa của quặng photphat tự nhiên, thường người ta đem phân hủy một phần quặng bằng các axit vô cơ (axit sulfuric hoặc photphoric) với một lượng vừa đủ để phân hủy cacbonat tạp trong quặng, tức là dưới mức để phân hủy photphat. Song sản phẩm phân hủy không hoàn toàn này chẳng phải lúc nào cũng đạt được các thông số cơ lý thích hợp cho phân bón. Để tăng hiệu lực nông hóa của bột photphorit nghèo, người ta sử dụng kết hợp photphorit với các muối của axit mạnh như KCl hoặc KNO3 hay các hợp chất chứa thành phần axit tự do. Song, trong loại phân tạo ra lại hầu như không chứa hợp chất photpho dạng hòa tan rất cần thiết cho cây. Để tăng khả năng hấp thụ photpho của cây, người ta có thể sử dụng trực tiếp phân NP và NPK tác dụng chậm, gồm NPK gia công theo lối truyền thống và bột photphorit. Nhưng bột photphorit thường ở dạng mịn nên rất khó trộn đều. Bột photphorit không chứa các thành phần kết dính nên độ bền của viên phân rất kém. Để khắc phục nhược điểm này người ta phải tạo hạt bột photphorit với dung dịch một số muối, trong đó có NH4NO3 - là một thành phần có khả năng làm tăng khả năng dễ được hấp thụ của photphorit tự nhiên. Người ta đã xác định rằng, khi bột photphorit tương tác với NH4NO3 thì sẽ làm tăng hoạt tính của photphat tự nhiên, tức là chuyển từ dạng P2O5 khó hấp thụ thành dạng dễ hấp thụ cho cây trồng. Quá trình tạo hạt xảy ra ở 105oC và thời gian kéo dài từ 3 - 5 phút. Cần lưu ý rằng ở nhiệt cao hơn hoạt tính của P2O5 sẽ giảm dần, mà có lẽ là do sự hình thành hợp chất dạng leicô photphorit. Fe2NH4(PO4)2OH. 2H2O. Một phương pháp tạo hạt khác đang được sử dụng rộng rãi là phun dung dịch hoặc muối nóng chảy của NH4NO3 hay urê lên bề mặt hạt photphorit. Hiệu quả quá trình này phụ thuộc vào công nghệ, thiết bị và tính chất của sản phẩm.

Từ kết quả thực nghiệm, người ta đã đưa ra các thông số tối ưu của quá trình tạo hạt bột photphorit như sau :

- Tỷ lệ giữa N và P2O5 trong hỗn hợp bột photphorit và NH4NO3 là 1 : 1,5

- Hàm lượng muối NH4NO3 nóng chảy (% ) : 84 - 86%.

- Nhiệt độ nóng chảy (oC) : 100 - 110

- Nhiệt độ tạo hạt (oC) : 35 - 40.

- Độ ẩm của phối liệu (%) : 4-5

- Thời gian tạo hạt (phút) : 2 - 3

Photphorit dạng hạt là cơ sở chính để sản xuất phân NPK mác hiệu 0,3 : 1 : 2 có chất lượng cao. Một loại phân đi từ bột photphorit, amophot và kali clorua có chứa,% : N : 4,82; P2O5: 17; K2O : 32,3, H2O: 0,79.

VŨ THÁI

Theo Công nghiệp hóa chất,

11/1999, (T.Nga)

Số lượt đọc:  1751  -  Cập nhật lần cuối:  13/05/2010 12:58:37 AM
 
Bài mới:  
 Trang chủ | Giới thiệu | Góp ý Trao đổi