Học tập Lý luận chính trị - biện pháp phòng chống “Tự diễn biến ”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay

03:26 CH @ Thứ Ba - 17 tháng 10, 2023

Học tập lý luận chính trị là một biện pháp hiệu quả trong phòng chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của mỗi cán bộ đảng viên, qua đó góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Đại hội VI (1986) của Đảng đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi mới tư duy đến đổi mới tổ chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo và phong cách của Đảng; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới chính trị và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

37 năm đổi mới, một bước ngoặt quan trọng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, những thành tựu, những kinh nghiệm đạt được cho đến nay đã tạo cho đất nước thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước trên tất cả các lĩnh vực. Để có được kết quả quan trọng đó, trong quá trình lãnh đạo, Đảng luôn xác định “phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt”. Chính vì vậy, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn trong đó, bài học hàng đầu là về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, Đảng vẫn đánh giá: “Sự nghiệp đổi mới được đẩy mạnh, kinh tế văn hoá tiếp tục được phát triển … nhưng cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức, lối sống “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” trong nội bộ và tình trạng tham nhũng lãng phí, tiêu cực… còn diễn biến phức tạp” . Có thể nói, bên cạnh bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra đến nay vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn trong đó đặc biệt nhấn mạnh tình trạng suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” vẫn là nguy cơ đe doạ sự tồn vong của chế độ, của Đảng cầm quyền. 

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình dịch chuyển, thay đổi về lập trường chính trị, tư tưởng trong từng cá nhân, đến một mức độ nhất định nào đó sẽ dẫn tới sự thay đổi bản chất của con người và tổ chức. Biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với người cán bộ, đảng viên là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có sự hoài nghi, lung lay về lập trường, lý tưởng và cuối cùng là sự thay đổi, buông bỏ lập trường giai cấp công nhân, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; nói và làm ngược lại với đường lối, chủ trương, mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Sự nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là ở chỗ, nó diễn ra ngay trong chính những con người vốn đã từng là cán bộ, đảng viên, thậm chí có những người đã từng rất gương mẫu. Khi đó, Đảng không chỉ mất đi những cán bộ, đảng viên của mình, mà những biểu hiện thoái hóa đó còn gieo rắc sự hoang mang, hoài nghi cho những người khác và xã hội đối với Đảng, Nhà nước. Ở nước ta, “tác động chuyển hóa” đang trở thành một mũi tiến công mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để làm thoái hóa, biến chất một bộ phận cán bộ, đảng viên, làm suy yếu, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng bằng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.

Không phải đến Đại hội XII Đảng ta mới đề cập đến suy thoái tư tưởng và “tự diễn biến” “tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng mà từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nhận định: “Lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, cũng là biểu hiện của sự thoái hóa”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 khoá IX Đảng ta tiếp tục chỉ rõ: “Sự suy thoái về nhận thức, tư tưởng chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn…”. 

Tuy nhiên, vấn đề ngày càng trở nên bức thiết khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã thẳng thắn đánh giá: “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn…” , đồng thời Nghị quyết làm rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, tự diễn biến, tự chuyển hoá trong nội bộ và thống nhất quan điểm chỉ đạo, đề ra những biện pháp khắc phục tình trạng này trong đó nhấn mạnh: “thực hiện quyết liệt đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có hiệu quả…”. Đến Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục đề ra nhiệm vụ “kiên quyết đấu tranh phòng chống có hiệu quả chủ nghĩa cơ hội, xét lại, giáo điều, bảo thủ, bè phái, những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” . 

V. I. Lê - nin từng chỉ rõ, các thế lực thù địch không ai có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta và “không một ai trên thế giới này có thể làm mất được uy tín của những người Mácxít cách mạng nếu họ không tự làm mất uy tín của họ” . Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Người yêu cầu cán bộ, đảng viên “người đảng viên chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”. Do đó, một trong những con đường tu dưỡng, rèn luyện để giữ vững lập trường tư tưởng của cán bộ, đảng viên đó chính là học tập lý luận chính trị vì: 

Thứ nhất, V. I. Lê - nin đã từng nói về tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị: “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiên phong” . Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”, “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”  hoặc “Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” dẫn tới khuyết điểm và trước hết, nguy hiểm nhất là “khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan” mà “nếu không chữa ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng” . Vì thế, học tập lý luận chính trị là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên. Trau dồi, bồi dưỡng về lý luận chính trị; khắc phục những hạn chế trong tư duy sẽ giúp cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học; những nguyên lý, quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng; thấu suốt đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Từ đó có nhận thức chính trị, tình cảm chính trị đúng đắn, có thế giới quan, phương pháp luận khoa học. Trong học tập, phải gắn lý luận với thực tiễn, phục vụ nhu cầu công tác, phát huy tính độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo, “học đi đôi với hành”. 

Thứ hai, lý luận chính trị là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị, là một bộ phận quan trọng về công tác tư tưởng, lý luận trong lĩnh vực chính trị; mang tính Đảng, tính giai cấp; đồng thời, có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa và tính dự báo khoa học cao. Vì vậy, giáo dục lý luận chính trị, bao gồm nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… là yêu cầu thường xuyên, hằng ngày, bức thiết đối với mỗi bộ, đảng viên. “Lý luận sở dĩ quan trọng như vậy là vì nó dạy ta hành động” và lý luận chính trị giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; có phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với quy luật khách quan. Với ý nghĩa đó, việc học tập lý luận chính trị không những góp phần để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, nắm bắt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mà còn là kim chỉ nam để hành động, là “sức đề kháng” để vượt lên những cám dỗ của nhưng tiêu cực trong cuộc sống. 

Ba là, về mặt hoạt động thực tiễn, cán bộ, đảng viên là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành; đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng và Chính phủ, để đề ra chính sách cho đúng. Do đó, một trong những yêu cầu cần thiết, bắt buộc đối với người cán bộ cách mạng là phải thường xuyên nỗ lực học tập, nhận thức đúng về tầm quan trọng của lý luận chính trị để rèn luyện bản lĩnh chính trị, tư tưởng phải vững vàng, đạo đức cách mạng phải trong sáng và năng lực trí tuệ, đảm bảo hoàn thành trọng trách vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Bốn là, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau nhằm phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, tìm cách hạ thấp giá trị khoa học của học thuyết, tư tưởng đó; phủ định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; đòi bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng bằng thuyết đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phi chính trị hóa lực lượng vũ trang…Nghị quyết số 35 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới yêu cầu: bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Cùng với đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng…” . Vì vậy, thông qua việc học tập lý luận chính trị, từng cán bộ, đảng viên sẽ nhận thức đầy đủ, sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội; tự miễn dịch với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. 

Tuy nhiên thực tế trong thời gian qua, đã không ít cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của học tập lý luận chính trị, có những biểu hiện ít quan tâm, xem nhẹ, coi thường việc học tập lý luận chính trị “chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa cao; tri thức kinh điển chưa được coi trọng đúng mức” ; động cơ, mục đích học tập lý luận chính trị không đúng đắn, học không vì mục đích bù đắp những tri thức, kỹ năng còn thiếu, mà học vì lý do thăng tiến, hoàn thiện bằng cấp, đáp ứng tiêu chuẩn được đề bạt, bổ nhiệm lên những vị trí cao hơn…vô hình dung việc ngại, lười học tập lý luận chính trị là một trong những con đường trực tiếp dẫn tới suy thoái về tư tưởng chính trị, lập trường không vững vàng, giao động, hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường mà Đảng, nhân dân lựa chọn và đồng thời nó cũng là một trong những biểu hiện của sự suy thoái dẫn đến “tự diễn biến”, “ tự chuyển hoá”. 

Do đó mỗi cán bộ, đảng viên không những phải thực hiện tốt những nhiệm vụ và trách nhiệm của mình mà còn thể hiện vai trò, nghĩa vụ và trách nhiệm với Đảng, với đất nước, nhân dân. Tự bản thân mỗi cán bộ, đảng viên cần thấy rõ bổn phận của mình, luôn vững vàng trước mọi khó khăn thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; không xa vào chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái. Nâng cao ý thức tu tưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người đảng viên thông qua đó góp phần đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng bảo, vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

* Tài liệu trích dẫn:
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá XII, Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 09 tháng 02 năm 2018 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. 
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, BCH TW khoá IX, Nxb CTQG, Hn, 2002.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư, BCHTW khoá XII, VPTWĐ, Hn, 2016. 
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb CTQG Sự thật, Hn. 2021.
5. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hn, 2006. 
6. V.I. Lênin: Toàn tập, t.6, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1975. 
7. Hồ Chí Minh: Tuyển tập, Nxb CTQG, Hn.2002. 
8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, t5, Hà, 2011.