Thực trạng công nghiệp sản xuất phân bón Việt Nam

12:00' AM - Thứ năm, 18/09/2003

Theo tổng kết của các nhà khoa học thế giới thì phân bón là một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần tăng năng suất cây trồng. Tính về tỷ trọng các yếu tố tăng năng suất cây trồng thì phân bón chiếm 25-27%.

Các số liệu theo dõi của Viện nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp thuộc tập đoàn DONGBU HANNONG Hàn Quốc tháng 8/1998, khi bón phân đạm cho lúa nước năng suất tăng 17%, lúa cạn tăng 49%. Nêu sử dụng phân bón có chứa cả 3 thành phần dinh dưỡng ni tơ phôtpho, ka li thì tỷ lệ tăng năng suất lúa ở Hàn Quốc đạt 45 %, ở Trung Quốc 15% với lúa nước, 17,7% với đậu tương; 26,1% với mía. Cũng theo đánh giá của FAO từ năm 1987, các yếu tố về phân bón, giống mới và các biện pháp kỹ thuật tiên tiến góp phần tăng năng suất cây trồng ở các châu lục như sau:

Châu Mỹ La Tinh tăng 49%, châu Á tăng 69%, Châu Phi tăng 57%, trên 90 nước phát triển tăng 63%.

Ở Việt Nam, mức tăng năng suất lúa khi sử dụng phân bón tù 35 đến 37% (theo báo cáo của Viện Nông hóa Thổ nhưỡng). Để đảm bảo an ninh lương thực và đạt mức xuất khẩu gạo hàng năm là 4 triệu tấn, vấn đề tăng năng suất cây trồng nhờ phân bón là giải pháp hiệu quả và quan trọng nhấtđối với nông nghiệp. Do đó, tăng năng suất nông nghiệp và đáp ứng đủ nhu cầu phân bón là vấn đề mang tính chiến lược quốc gia.

Để đánh giá thực trạng của nền sản xuất phân bón việt Nam so với thế giới, chúng ta điểm qua số liệu sử dụng phân bón cho 1 ha gieo trồng trên thế giới

+ Nhật Bản: 407,1 kg/ha; Pháp: 235,4 kg/ha; Pakistan: 101,5 kg/ha; Hàn Quốc: 473,8 kg/ha; Ấn Độ: 71,6kg/ha; Trung Quốc: 302,7 kg/ha; Indônexia: 84,8 kg/ha; Bangladesh: 110,6kg/ha; Thái lan: 54,1 kg/ha.

Theo số liệu của Viện thổ nhưỡng, lượng phân bón cho 1 ha ở nước ta những năm trước 1985 dưới 51,5 kg, năm 1990 là 65,3 kg, năm 1995 là 131,2 kg và năm 1997 là 122,6 kg. Lượng bón này bằng 34% so với Hàn Quốc và 50% so với Trung Quốc là những nước có nền nông nghiệp phát triển. Các nước trong khu vục như Thái Lan, Indônêxia có sản lượng phân bón lớn, nhưng mức sử dụng lại rất thấp

Ở nước ta, lượng phân bón sản xuất sử dụng và nhập khẩu các năm như sau (xem bảng)

Lượng phân bón sản xuất, sử dụng và nhập khẩu các năm (Đơn vị: 1000 tấn)

Loại phân bón

1995

1996

1997

1998

Phân đạm quy về urê

Trong đó sản xuất trong nước

1.599

110,1

1.671

120,5

1.639

130,1

1.600

65

Phân lân chế biến trong nước

799

823

836

860

Phân DAP nhập khẩu

365

458

276

350

Phân NPK

 trong đó nhập khẩu

329

150

539

351

732

372

880

350

Phân Kali nhập khẩu

140 184 200 250

Qua các số liệu về sản xuất, sử dụng và tỷ lệ bón phân ở Việt Nam so với thế giới, chúng ta thấy được việt Nam đang ở mức độ trung bình thấp của thế giới. Nhu cầu sử dụng phân bón ở Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng lớn, trong khi chúng ta có nguồn tài nguyên là nguyên liệu cho sản xuất phân bón rất dồi dào. Đó là khí thiên nhiên, than đá, dầu mỏ cho sản xuất phân đạm; quặng phốt phát cho sản xuất phân lân. Đây là một trong những tiền đề quan trọng cho việc xây dựng chiến lược phát triển ngành phân bón ở Việt Nam.

Phân đạm:

Nước ta mới chỉ có một nhà máy sản xuất phân urê công suất 100.000 tấn/năm. Sản lượng năm cao nhất chỉ bằng 8% nhu cầu sử dụng phân đạm trong toàn quốc, chỉ đáp ứng khoảng từ 25-30% nhu cầu vùng đồng bằng Bắc bộ.

Nhà máy Phân đạm Hà Bắc được xây dựng từ những năm 1960 do Trung Quốc giúp đỡ, theo công nghệ của thời kỳ đó. Nguyên liệu là than cục được khí hóa trong lò tầng cố định gián đoạn. Tổng hợp amôniăc và urê ở áp suất cao có suất tiêu hao năng lượng cho quá trình nén rất cao. Sản phẩm urê được tạo hạt không có lớp chống kết dính nên khó bảo quản. Quy mô công suất nhỏ. Do đó giá thành sản phẩm không có sức cạnh tranh với sản phẩm cùng loại đi từ khí thiên nhiên. Trước những năm 1990, tiêu hao năng lượng cho một tấn NH3 của nhà máy là 23-24 triệu kcal, sau khi cải tạo (mấy năm gần đây), chỉ tiêu này giảm xuống còn 19-20 triệu kcal và sản lượng đã được nâng lên 130.000 t/năm. Nếu tiếp tục được đầu tư cải tạo tiếp như thế hệ cải tạo lần thứ 3 ở Trung quốc, suất tiêu hao năng lượng có thê đạt 17,5 triệu kcal như mức hiện nay của Trung Quốc.

Ngoài sản xuất, nước ta phải nhập khẩu. Lượng đạm nhập chủ yếu bao gồm các loại: phân urê, SA, phân phức hợp DAP và NPK chứa 18%N. Do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính khu vực giá urê nhập khẩu vào Việt Nam thấp hơn cả giá thành của các nước trong khu vực, ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả sản xuất urê của nước ta vốn đã không cạnh tranh nổi với các nước khu vực. Muốn giữ được ngành sản xuất phân đạm trong nhóc không thể không có sự bảo hộ của Nhà nước.

Đầu tư xây dựng nhà máy đạm đòi hỏi vốn rất lớn. Các nhà máy đạm công suất 800.000 T/năm đi từ khí có tổng vốn đầu tư khoảng 350 - 400 triệu USD. Dự án nhà máy đạm Phú Mỹ của Việt Nam dự kiến vốn đầu tư khoảng 500 triệu USD. Thời gian hoàn vốnđầu tư khoảng 10 năm. Chỉ số hoàn vốn nội bộ thuận rất thấp 10-12% nếu không có chính sách bảo hộ của Nhà nước. Do đó thường phải có nhiều đối tác tham gia liên doanh cùng đầu tư, bản thân một mình nước chủ nhà khó có đủ vốn để đầu tư.

Phân chứa lân:

Tới thời điểm này dù là phân lân nung chày hay phân supe lân đều do sản xuất trong nước đáp ứng. Đây là lợi thế chỉ của những nước có nguồn tài nguyên quặng chứa phôtpho. Mức độ tăng trưởng phân lân hàng năm từ 1990 là 18,7%, từ sản lượng 362.200 tấn/năm 1990 lên 900.000 T/năm 1998. Trong nước có 4 cơ sở sản xuất phân lân chế biến trong đó có: 2 nhà máy sản xuất phân lân nung chảy, 2 nhà máy phân supe lân đơn. Công suất thiết kế ban đầu (năm 1960) của nhà máy lân Văn Điển là 20.000 T/năm và nhà máy lân Lâm Thao 100.000T/năm. Từ sau năm 1975 tới nay liên tục cải tạo, mở rộng công suất nhà máy lãn Văn Điển lên 100.000 T/năm, 150.000 và tiến tới 200.000 T/năm. Nhà máy lân Lâm Thao qua 3 lần mở rộng đạt các mức 450.000; 500.000 và 600.000 T/năm. Sau năm 1975, đã xây dựng thêm 2 nhà máy phân lân là Ninh Bình công suất 100.000 T/năm mở rộng lên 200.000 T/năm và nhà máy Long Thành 100.000 T/năm mở rộng lên 200.000 T/năm. Tổng công suất sau khi mở rộng phân lân là 1 triệu tấn/năm. So với nhu cầu sử dụng phân chứa lân (do Bộ NN & FRNT dự kiến hàng năm khoảng 2 triệu tấn quy về lân đơn. Như vậy sản xuất lân trong nước đápứng 50% nhu cầu. Lượng lân còn thiếu (khoảng 1 triệu tấn) được nhập khẩu ở dạng DAP và NPK. Nhằm khai thác và phát huy hiệu quả tài nguyên, đồng thời chủ động nguồn phân bón, giảm ngoại tệ nhập khẩu, cần thiết phải đầu tư nhà máy sản xuất phân chứa lân mà xu thế hiện nay là xây dựng nhà máy phân lân có hàm lượng dinh dưỡng cao như DAP 330.000 T/năm. Khi đó sẽ cung cấp đủ phân chứa lân cho nông nghiệp. Trong thời gian xây dựng nhà máy vẫn phải nhập bù số phân chứa lân thiếu hụt, và chỉ nên nhập khẩu phân DAP vì hàm lượng dinh dưỡng quy về lân gấp 2,5 - 3 lần trong NPK, sẽ giảm chi phí vận tải, chi phí bón phân.

Phân chứa kali:

Là loại phải nhập toàn bộ do nước ta không có nguồn tài nguyên chứa ka li. Hàng năm chúng ta nhập khoảng 450-600.000 tấn. Phần lớn cây trồng và nhiều vùng đất canh tác trong nước ở dạng đói kali.

Phân hỗn hợp NPK:

Xu thế sử dụng phân bón ngày nay là loại phân nhiều thành phân dinh dưỡng với tỷ lệ thích hợp cho các loại đất và cây trồng. Theo tổng kết của Hàn Quốc và Nhật Bản, khi bón đủ cả NPK năng suất sẽ tăng 28% cho lúa nước và 163% cho lúa cạn.

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa đã tổ chức khảo nghiệm ảnh hưởng bón phân hỗn hợp cân đối đủ thành phần trên đất phù sa Sông Hồng cho thấy năng suất lúa tăng 41,3% so với phân đơn: Việc sử dụng phân hỗn hợp ở Việt Nam đã được khẳng định và dần thay thế tập quán sử dụng phân đơn của nông dân.

Tới thời điềm này, năng lực sản xuất phân NPK trong nước đạt mức 1,95 - 2 triệu tấn/năm. Trong đó do Tổng công ty Hóa chất Việt Nam sản xuất khoảng 0,9 triệu tấn. Phân NPK sản xuất trong nước đã có những tiến bộ vượt bậc cả về công nghệ, chất lượng và giảm thiểu lượng mất mát dinh dưỡng khi bảo quản, sử dụng.

Tóm lại, tốc độ phát triển sản xuất phân bón trung bình 22% giai đoạn 1991-1997, mức đầu tư cho toàn ngành phân bón từ 1991 tới nay tăng từ 63,5 tỷ đồng năm 1991 lên 102 tỷ đồng năm 1997. Mức độ đầu tư này là quá nhỏ bé so với nhu cầu cần phải đầu tư, nhưng đã là rất cố gắng so với thực lực và tiêm năng tài chính của Tổng công ty và của đất nước.

Từ những đặc điểm của các nhà máy sản xuất phân bón như đã phân tích trên, bản thân ngành phân bón đang cố gắng tự nỗ lực đầu tư, tăng số lượng, chất lượng, chủng loại và dần đáp ứng 55- 60% nhu cầu trong nước. Bên cạnh đó, ngành sản xuất phân bón còn có lợi thế nguyên liệu là nhân công. Song sản phẩm phân bón là tư liệu sản xuất phục vụ nông nghiệp có giá trị kinh tế thấp hơn rất nhiều các sản phẩm tiêu dùng khác, lại phải cạnh tranh với sản phẩm rẻ hơn của các nước trong khu vực do các nhà máy đã hoàn xong vốn đầu tư, lại trong bối cảnh bị khủng hoảng tài chính khu vực.

Những kiến nghị về chính sách và biện pháp bảo hộ sản xuất phân bón:

Vấn đề bản hộ sản xuất phân bón trong nước là tất yếu và cấp bách đối với mỗi quốc gia nhằm: xây dựngđược nền sản xuất phân bón trong nước vững mạnh thông qua việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nâng cao giá trị kinh tế tài nguyên đất nước và tạo việc làm cho người lao động của mỗi nước.

Các chính sách và biện pháp thực hiện ở mỗi nước có khác nhau phụ thuộc vào thể chế của từng nước nhưng nói chung là tạo môi trường hấp dẫn các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào phân bón như hỗ trợ đầu tư hạ tầng cơ sở, ngoại tệ mạnh vào phân bón như hỗ trợ (giao thông, điện, nước) tạo vốn cho thực hiện dự án, nhất là ưu tiên dành cho dự án.

Chính phủ đã có chính sách điều tiết giá bán trong nước phù hợp với giá nhập khẩu phân bón, cân đối lượng nhập khẩu với năng lực sản xuất trong nước; bảo hộ giá nguyên liệu đầu vào trong thời gian chưa hoàn vốn đầu tư.

Thời gian qua, chính phủ Việt Nam đã có một số chính sách bảo hộ sản xuất phân bón trong nước:

1. Dành các thuế ưu tiên phân bón sản xuất trong nước (thuế doanh thu, lợi tức, thuế tài nguyên, phụ thu phân bón nhập khẩu 3% cho urê, 4% cho NPK và 5% cho DAP).

2. Thực hiện cân đối giữa lượng sản xuất trong nước với lượng thiếu cần nhập khẩu. Giao cho một số đầu mối thực hiện nhập khẩu theo kế hoạch, có tiến độ và quy định địa điểm nhập để thống nhất quản lý rong cả nước.

3. Hỗ trợ vốn đầu tư cải tạo, vốn sản xuất cho các nhà máy phân bón khi mở rộng sản xuất.

4. Trợ giá vận tải phân bón đi miền Nam, lên miền núi.

5. Giải quyết một số cơ chế đặc biệt cho nhà máy phân đạm Hà Bắc như dự trữ 5 vạn tấn urê tồn kho.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện các cơ chế này còn nhiều mặt phải cải tiến, như:

Quản lý nhập khẩu phân bón chưa thực hiện được theo kế hoạch. Số đầu mối quá nhiều, số lượng cấp hạn ngạch vượt xa số lượng yêu cầu, không quản lý được tiến độ và số lượng nhập khẩu luôn xảy ra tình trạng dư thừa cục bộ đã làm tăng lượng tồn kho sản phẩm sản xuất trong nước.

Không điều tiết được giá nhập khẩu và giá bán trong nước. Giá tiêu thụ trôi nổi phụ thuộc hoàn toàn vào giá trị trong thế giới.

Không cấp đủ vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh theo tốc độ tăng trưởng.

Quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm trong nước, nhập khẩu chưa tốt  dẫn đến thiệt hại cho người sử dụng và các nhà sản xuất chân chính.

Chưa có chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất phân bón, giá nguyên liệu cho sản xuất phân bón liên tục tăng mà giá đầu ra lại không điều tiết được.

Để phát triển ngành sản xuất phân bón trong nước đáp ứng nhu cầu sản xuất  31 triệu tấn lượng thực Nhà nước cần tiếp tức giải quyết một số vấn đề:

1- Sớm phê duyệt chiến lược phát triển phân bón hóa học đến năm 2010của Tổng công ty Hóa chất Việt Nam đã trình duyệt.

2-  Ưu tiên tạo đủ vốn đầu tư và vốn sản xuất kinh doanh cho ngành phân bón.

3- Cần đưa vào quy hoạch phân vùng chung và có chính sáchđầu tư cơ sở  hạ tầng, tránh tình trạng mỗi cơ sở sản xuất phải đầu tư cả phần cơ sở hạ tầng  ngoài khu vực sản xuất.

4- Giao cho nhà sản xuất tự chịu trách nhiệm cung ứng đủ phân bón cho nhu cầu trong nước thông qua việc tự cân đối sản xuất và nhập khẩu.

5- Có chính sách thuế ưu tiên cho đầu tư sản xuất trong nước như với liên doanh nước ngoài.

6- Thực hiện bảo hộ sản xuất phân bón trong nước bằng chính sách thuế, điều tiết giá bán phân bón so với giá sàn thực cho tới khi nhập AFTA.

ĐỖ QUANG CHIÊU và CHU VĂN TUẤN

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,