Nghiên cứu công nghệ tổng hợp thuốc tuyển quặng muối kali clorua của lào

12:00' AM - Thứ năm, 12/02/2009

Cấp đề tài: Tổng Công ty

Cơ quan thực hiện: Viện Hóa học Công nghiệp

Chủ nhiệm đề tài: Hà Văn Vợi

Mã tài liệu: 4.2006

Nội dung tóm tắt:

MỞ ĐẦU

Kali ( K hay Potat ) là một kim loại kiềm màu bạc do nhà hoá học Anh Devis là người đầu tiên tìm thấy vào năm 1807. Một nguyên tố có số thứ tự 19 thuộc nhóm I trong bảng tuần hoàn Mendeleep. Nhân của nguyên tử K được bao bởi 19 điện tử.

Kali thiên nhiên cơ cấu từ 2 đồng vị vững là K39 (93,08%), K41 (6,91%) và 1 đồng vị phóng xạ yếu là K40 (0,0119%).

Kali được sử dụng rộng rãi trên thế giới để làm phân bón phục vụ cho nông nghiệp, và để sản xuất các hóa chất cơ bản khác.

Kali cùng với phôtpho là những chất dinh dưỡng không thể thiếu được đối với cây trồng. Phân Kali đặc biệt quí đối với cây có củ (khoai tây, củ cải đường) lúa, cây có gai, thuốc lá... Nhu cầu kali càng ngày càng tăng, khối lượng phân kali (K2O) tiêu thụ trên thế giới hiện nay trên 22 triệu tấn/năm. Trong công nghiệp hoá học, Kali dùng để sản xuất KCl, KOH, KNO3, KBr, KCN và các muối Kali khác dùng trong các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau.

Kali được sản xuất từ nguyên liệu là quặng muối Kali khai thác từ các mỏ muối.

Sylvinite và Camauit là nguồn nguyên liệu chính để thu hồi Kali. Khoảng 90 - 95% Kali dùng trong nông nghiệp dưới dạng phân bón, lấy từ quặng tinh KCl của phương pháp tuyển nổi hoặc phương pháp hoà tan kết tinh. Khoảng 5 - 10% Kali được sử dụng trong các lĩnh vực khác như hoá học, thuỷ tinh, giấy, ximăng, dệt....

Đồng thời với việc thu hồi KCl còn nhận được MgCl2. MgCl2 dùng để sản xuất ximăng, đá mài nhân tạo, ximăng chịu lửa, vật liệu cách nhiệt.

Ngoài ra MgCl2 còn dùng trong công nghiệp dệt, giấy, làm thuốc sát trùng, chống mối mọt.

Ở dạng sản phẩm phụ khi tuyển nổi hoặc gia công hoá học Sylvinite, camallit còn nhận được NaCl, là nguyên liệu để sản xuất Xô đa, muối ăn...

Việt Nam chưa sản xuất được Kali do không có nguồn tài nguyên này, do đó nước ta phải nhập khẩu toàn bộ KCl từ nước ngoài về để phục vụ cho nền công nghiệp phân bón và hoá chất. Theo số liệu của Tổng công ty hoá chất Việt Nam, trong những năm gần đây, mỗi năm lượng Kali nhập khẩu lên đến gần 600.000 tấn. Do vậy, việc nghiên cứu, đầu tư khai thác và chế biến muối Kah tại CHDCND Lào là cần thiết nhằm tạo sự chủ động về nguyên liệu cho sản xuất phân bón và hoá chất trong nước, mang lại lợi ích cho cả hai nước, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị truyền thống Việt - Lào. Hiện nay Tổng công ty Hoá chất Việt Nam đang triển khai chương trình hợp tác đầu tư thăm dò, khai thác và chế biến muối Kali tại Lào do đó cần có sự nghiên cứu khả năng điều chế thuốc tuyển quặng Kali nhằm định hướng cho việc đánh giá khả năng làm giàu quặng bằng các phương pháp.

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)