Phân bón vi sinh

12:00' AM - Thứ ba, 11/09/2007
PHÂN BÓN VI SINH

PHÂN BÓN VI SINH

Nguyễn Minh Hưng và cộng sự
Viện Thổ nhưỡng Nông hóa


I. PHÂN BÓN VÀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Dân số thế giới đã tăng từ 3 tỷ người năm 1960 lên 5,3 tỷ người năm 1990 và dự kiến đạt 8,5 tỷ người vào năm 2050. Việc tăng dân số đồng nghĩa với việc tăng áp lực khai thác lên tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất và nước. Trước đây để tăng sản lượng lương thực có thể nhờ vào tăng diện tích đất canh tác và tăng năng suất cây trồng, song trong vòng 30 năm trở lại đây tỷ lệ tăng dân số và tăng diện tích đất canh tác không còn tỷ lệ thuận nữa. Từ năm 1965 đến năm 1990 diện tích đất canh tác chỉ tăng có 9,4%, trong khi mức tăng dân số lại đạt 68,5%, do vậy diện tích đất canh tác bình quân đầu người đã giảm 35,1%, tương đương với mức giảm 1,4%/năm.

Việt Nam, diện tích đất canh tác bình quân đầu người trong vòng 65 năm qua đã giảm từ 2.548 m2xuống còn 732 m2/người, tương đương với mức độ giảm 1,1%/năm. Như vậy trong nông nghiệp hiện nay, sản lượng cây trồng sẽ được quyết định chủ yếu bằng yếu tố tăng năng suất thông qua thâm canh và áp dụng các kỹ thuật mới trong công tác chọn tạo giống, bảo vệ thực vật và chế biến, bảo quản sau thu hoạch, trong đó vai trò của phân bón là cực kỳ quan trọng. Điều này cũng phù hợp với kinh nghiệm lâu đời của ông cha ta là  "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống". Phân bón góp phần làm tăng năng suất cây trồng thông qua nhiều cơ chế tác động khác nhau, song quan trọng hơn cả là phân bón cung cấp cho cây trồng những dinh dưỡng cần mà đất không đủ khả năng cung cấp, duy trì độ phì nhiêu trong quá trình canh tác. Ngoài ra, cùng với năng suất kinh tế, phân bón làm tăng lượng sinh khối cây do đó tăng nguồn hữu cơ trả lại cho đất, góp phần ổn định độ phì của đất.

Trong những năm gần đây, nông lâm nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 4,3%; sản xuất lương thực tăng 5,8%, cà phê tăng 20 lần, cao su 3,5 lần, chè 1,8 lần, điều 104 lần... Năng suất đa số cây trồng đều tăng khá, trong đó lúa tăng 52%, cà phê tăng 10 lần (đứng hàng đầu thế giới), cao su tăng 114%. Từ một nước nông nghiệp thường xuyên phải nhập khẩu lương thực, đến năm 2000 Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới, trong đó phân bón nói riêng và các sản phẩm hóa học nói chung có nhiều đóng góp tích cực. Không có phân bón hóa học thì không thể có nền nông nghiệp thâm canh với năng suất cao. Số liệu thống kê trong hai chục năm qua cho thấy mức tăng của sản lượng lương thực hầu như tỷ lệ thuận với mức tăng của phân khoáng. Theo Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam, lượng phân khoáng sử dụng tại Việt Nam tăng đều và liên tục trong suốt thời gian qua. Dự kiến đến năm 2010, tổng lượng phân bón hóa học (NPK) sử dụng trong cả nước khoảng 2.601,5 ngàn tấn. Cho đến nay Việt Nam mới chỉ sản xuất đáp ứng khoảng 20% nhu cầu về đạm và 80% nhu cầu về lân. Số phân bón thiếu hụt hàng năm Nhà nước phải bỏ ra hàng tỷ USD để nhập khẩu.

Do sự thiếu cân đối trong việc bón các yếu tố dinh dưỡng cũng như các yếu tố ngoại cảnh khác nên hiệu quả sử dựng phân bón hóa học không cao, gây lãng phí và ảnh hưởng xấu đến môi trường. Số liệu thống kê cho thấy, lượng sử dựng phân khoáng ở Việt Nam chưa cao so với một số nước trên thế giới, song do bón phân khoáng không cân đối, thiếu hợp lý và không đồng bộ, nên hiệu quả sử dụng phân bón thấp. ỞViệt Nam, hiệu quả sử dụng phân bón đạt 35 - 45% đối với đạm và 50 - 60% đối với lân và kali. Điều đó làm gia tăng sự mất cân đối về dinh dưỡng đối với cây trồng, trong khi lượng hút các chất dinh dưỡng cùng với sản phẩm thu hoạch vượt quá lượng dinh dưỡng bón vào. Kết quả là nguồn dự trữ dinh dưỡng chứa trong đất ngày càng cạn kiệt. Việc tăng lượng phân đạm bón lên gấp đôi từ năm 1985 - 1992 đã dẫn đến mất cân đối khoảng 500.000 tấn K2O mà cây trồng hàng năm phải lấy đi từ đất, ngoài ra khoảng 200.000 tấn K2O bị hoàn toàn lấy đi khỏi đất theo các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu.

Bón phân không cân đối dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu dinh dưỡng đồng thời gây nên hiện tượng chai cứng, giảm độ phì, thay đổi tính chất vật lý, hóa học và sinh học của đất trồng. Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, hiện tượng xói mòn, rửa trôi do thời tiết là điều không thể tránh khỏi. Để hình thành 1 cm mùn cho đất cần có một thời gian hàng trăm năm nếu không có biện pháp canh tác, bón phân và sử dụng phân bón hợp lý thì chỉ qua một vụ mưa lượng mùn bị rửa trôi bằng cả thời gian chục năm hình thành và tích tụ. Do không cân đối dinh dưỡng nên hiện tượng suy kiệt dinh dưỡng đất đã và đang xảy ra ngày càng trầm trọng. Tại châu Phi từ năm 1945 đến năm 1990 đã có 20,4 triệu ha bị thoái hóa nhẹ; 8,8 triệu ha bị thoái hóa vừa; 6,6 triệu ha bị thoái hóa nặng và tương ứng ở châu Álà 4,6; 9,0; 1 triệu ha và ở Nam Mỹ là 24,5; 31,1; 12,6 triệu ha. ỞViệt Nam diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất "có vấn đề" về độ phì nhiêu và sức sản xuất kém chiếm tới 50% diện tích đất toàn quốc.

Mặt khác, phải kể đến ảnh hưởng bất lợi của phân bón hóa học đến môi trường sinh thái đó là nguy cơ gây ngộ độc nitrat, phú dưỡng nước và tích lũy kim loại nặng trong nông sản.

Liều lượng phân đạm cao trong đất có thể làm tăng hàm lượng nitrat trong nước uống, rau, nước quả... và là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh xanh da, vì trong hệ thống tiêu hóa nitrat (NO3) bị khử thành nitrit (NO2) biến hồng cầu (Haemoglobin) vận chuyển oxy trong máu thành Methaemoglobin. Nitrat với liều lượng cao ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của tuyến giáp và gây ngộ độc có thể dẫn đến tử vong cho người. Ngoài ra, nitrit khi ở trong cơ thể sẽ phản ứng với amin và tạo thành nitroamin - một tác nhân gây ung thư.

Thông qua việc bón, phân đạm, lân và các yếu tố dinh dưỡng khác tích lũy trong sông, ao, hồ, đập chứa... gây nên hiện tượng phú dưỡng nguồn nước. ở những nơi đó, rong rêu phát triển tranh chấp oxy với cá và các động vật thủy sinh khác, gây tắc nghẽn dòng chảy. Khi chết đi, chúng để lại một khối lượng sinh khối lớn, bị vi sinh vật phân hủy gây mùi hôi thối khó chịu, ô nhiễm nguồn nước và không khí.

Ngoài ra, phân bón lân hóa học có chứa nhiều kim loại nặng đặc biệt là Cadmium (Cd) khi được bón vào đất cây trồng sẽ sử dụng và gây nên nguy cơ tích lũy kim loại nặng trong nông sản.

Thực tế sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam đã khẳng định, phân bón trong giai đoạn vừa qua đã có nhiều đóng góp tích cực. Số lượng, chất lượng và chủng loại phân bón ngày một tăng cao, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực. Song mặt khác, việc sử dụng gia tăng phân bón hóa học trong sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các yếu tố dinh dưỡng đã gây ra nhiều ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất và môi trường sinh thái. Để phát triển nông nghiệp bền vững, cần phải có chiến lược an toàn dinh dưỡng cho đất và cây trồng: đó là bảo đảm cung cấp đủ liều lượng cần thiết các chất dinh dưỡng thiết yếu đúng lúc cây cần, theo tỷ lệ cân đối giữa các chất trong phân bón phù hợp với yêu cầu từng loại cây trên các vùng đất trồng dưới các điều kiện thời tiết, khí hậu khác nhau: an toàn dinh dưỡng cho cây và đất trồng cũng có nghĩa bảo đảm và phát triển hệ sinh thái đất. Đất trồng không chỉ là tập hợp các nguyên tố hóa học, mà còn là một thế giới sống – nơi trú ngụ và sinh sống của hàng triệu triệu sinh vật, nơi từng giờ, từng phút diễn ra hàng loạt các phản ứng lý, hóa và sinh học. Thông qua các phản ứng lý, hóa, sinh học và các hoạt động của sinh vật sống, đất trồng mới có điều kiện để hồi phục và cân bằng thông qua các quy luật của tự nhiên. Nếu phá vỡ các quy luật này, đất sẽ bị hủy hoại và không phát huy được vai trò của nó. Bảo đảm an toàn dinh dưỡng cho cây và đất trồng không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi sinh, môi trường thông qua việc tạo thế cân bằng trong tự nhiên, giảm bớt hóa chất độc sử dụng trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng. Chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây và đất trồng là sử dựng cân đối phân bón hóa học và phân bón sinh học cho cây trồng phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng và điều kiện đất đai, khí hậu trong đó phân bón sinh học có vai trò vô cùng quan trọng. Phân bón sinh học không chỉ cung cấp cho cây trồng các chất dinh dưỡng cần thiết mà còn góp phần duy trì độ phì nhiêu của đất trong quá trình canh tác, do vậy có vai trò rất quan trọng trong thâm canh. Phân bón sinh học là nhóm phân bón có nguồn gốc từ các chất liệu sinh học bao gồm các loại phân vi sinh vật, phân hữu cơ được chế biến thông qua quá trình lên men vi sinh vật (compost).

II. PHÂN BÓN VI SINH VẬT

1- Khái niệm

Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật tồn tại trong đất, nước và vùng rễ cây có ý nghĩa quan trọng trong các mối tương tác giữa cây trồng, đất và phân bón. Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của vi sinh vật (quá trình mùn hóa, khoáng hóa hợp chất chất hữu cơ, quá trình phân giải hoặc cố định chất vô cơ...). Vì vậy, vi sinh vật được coi là một yếu tố của hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp.

Tại nhiều quốc gia, phân bón vi sinh vật (VSV) được hiểu là các sản phẩm chứa các VSV tồn tại dưới dạng tế bào đang sống hay gọi là tế bào sinh dưỡng hoặc bào tử hay VSV dạng ngủ từ các chủng VSV có ích có khả năng cố định đạm hoặc chuyển hóa lân khó tan thành lân dễ tiêu tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình dinh dưỡng của cây và đất trồng.

Phân bón VSV là các sản phẩm mang VSV nhiễm cho đất và cây trồng. Theo Tiêu chuẩn Việt Nam năm 1996 (TCVN 6168-1996), phân bón VSV được định nghĩa: "Phân vi sinh vật (phân vi sinh) là sản phẩm chứa các vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N, P, K, S, Fe...) hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất và(hoặc) chất lượng nông sản. Phân vi sinh vật phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến ngư, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản".

Theo định nghĩa nêu trên, phân bón VSV được hiểu như sau:

- Phân bón VSV phải là sản phẩm chứa các VSV sống tồn tại dưới dạng tế bào sinh dưỡng hoặc bào tử.

- Vi sinh vật chứa trong phân bón VSV phải là các VSV đã được tuyển chọn đánh giá có hoạt tính sinh học, có khả năng sinh trưởng, phát triển và thích nghi với điều kiện môi trường sống mà ở đó chúng được sử dụng.

Danh mục một số giống vi sinh vật đang được sử dụng trong sản xuất phân bón VSV ở Việt Nam được cho trong bảng 1.

Bảng 1: Một số giống vi sinh vật sử dụng trong sản xuất phân bón VSV ở Việt Nam

TT

Giống VSV

Hoạt tính sinh học chính

Số loài sử dụng trong sản xuất

1

acetobacter

Cố định nitơ tự do

2

2

achromobacter

Phân giải hợp chất phosphor khó tan

2

3

aerobacter

Cố định nitơ tự do

2

4

agrobacterium

Cố định nitơ tự do/kích thích sinh trưởng thực vật

5

anthrobacter

Kích thích sinh trưởng thực vật

2

6

aspergillus

Phân giải hợp chất phosphor khó tan

2

7

azospirillum

Cố định nitơ hội sinh

2

8

azotobacter

Cố định nitơ tự do

4

9

azotomonas

Cố định nitơ tự do

2

10

Bacillus

Cố định nitơ tự do

2

11

Bacillus

Phân giải hợp chất phosphor khó tan

4

12

Clostridium

Cố định nitơ tự do

3

13

Chlorobium

Cố định nitơ tự do

14

Frankia

Cố định nitơ cộng sinh

15

Flavobaterium

Kích thích sinh trưởng thực vật

2

16

Klebsiella

Cố định nitơ tự do

2

17

Mthanobacterium

Cố định nitơ tự do

2

18

Pseudomonas

Cố định nitơ

2

19

Pseudomonas

Phân giải hợp chất phosphor khó tan

4

20

Penicillium

Phân giải hợp chất phosphor khó tan

2

21

Rhizobium/ Bradyrhizobium

Cố định nitơ cộng sinh

300

22

Rhodospirillum

Cố định nitơ

4

23

VaM

Cải tạo đất, kích thích sinh trưởng thực vật

6

24

Pisolithus

Cố định nitơ

6

25

Serratia

Phân giải hợp chất phosphor khó tan

2

2. Phân loại phân bón vi sinh vật

Phân bón vi sinh vật được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo công nghệ sản xuất, tính năng tác dụng của vi sinh vật chứa trong phân bón hoặc thành phần các chất tạo nên sản phẩm phân bón.

a) Phân loại theo công nghệ sản xuất phân bón:

Tùy theo công nghệ sản xuất, người ta có thể chia phân vi sinh vật (VSV) thành hai loại như sau:

- Phân vi sinh vật trên nền chất mang khử trùng có mật độ vi sinh vật hữu ích >109vi sinh vật/g (ml) và mật độ vi sinh vật tạp nhiễm thấp hơn 1/1000 so với vi sinh vật hữu ích. Phân bón dạng này được tạo thành bằng cách tẩm nhiễm sinh khối vi sinh vật sống đã qua tuyển chọn vào cơ chất đã được xử lý vô trùng bằng các phương pháp khác nhau. Phân bón vi sinh vật trên nền chất chất mang đã khử trùng được sử dụng dưới dạng nhiễm hạt, hồ rễ hoặc tưới phủ với liều lượng 1-1,5 kg (lit)/ha canh tác.

- Phân vi sinh vật trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằng cách tẩm nhiễm trực tiếp sinh khối vi sinh vật sống đã qua tuyển chọn, vào cơ chất không cần thông qua công đoạn khử trùng cơ chất. Phân bón dạng này có mật độ vi sinh vật hữu ích 106vi sinh vật/g (ml) và được sử dụng với số lượng từ vài trăm đến hàng nghìn kg (lít)/ha.

Đối với phân bón vi sinh vật trên nền chất mang không khử trùng, tùy theo thành phần các chất chứa trong chất mang mà phân bón VSV dạng này được phân biệt thành các loại:

- Phân hữu cơ VSV là sản phẩm phân hữu cơ có chứa các VSV sống đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng hay các hoạt chất sinh học góp phần nâng cao năng suất,chất lượng nông sản.

- Phân hữu cơ khoáng VSV là một dạng của phân hữu cơ VSV, trong đó có chứa một lượng nhất định các dinh dưỡng khoáng.

b) Phân loại theo tính năng tác dụng của các nhóm vi sinh vật chứa trong phân bón:

Trên cơ sở tính năng tác dụng của các VSV chứa trong phân bón, phân VSV còn được gọi dưới các tên:

- Phân VSV cố định nitơ (phân đạm vi sinh) là sản phẩm chứa các VSV sống cộng sinh với cây họ đậu (đậu tương, lạc, đậu xanh, đậu đen, v.v...), hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khả năng sử dụng nitơ từ không khí, tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng.

- Phân VSV phân giải hợp chất photpho khó tan(phân lân vi sinh) sản xuất từ các VSV có khả năng chuyển hóa các hợp chất photpho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng.

- Phân VSV kích thích, điều hòa sinh trưởng thực vật chứa các VSV có khả năng sinh tổng hợp các hoạt chất sinh học có tác dụng điều hòa hoặc kích thích quá trình trao đổi chất của cây.

- Phân VSV chức năng là một dạng của phân bón VSV ngoài khả năng tạo nên các chất dinh dưỡng cho đất, cây trồng, còn có thể ức chế, kìm hãm sự phát sinh, phát triển của một số bệnh vùng rễ cây trồng do vi khuẩn và vi nấm gây nên.

c) Phân loại theo trạng thái vật lý của phân bón:

Căn cứ vào trạng thái vật lý của phân bón, có thể chia phân bón VSV thành các loại sau:

- Phân VSV dạng bột là dạng phân bón vi sinh, trong đó sinh khối VSV sống đã được tuyển chọn và chất mang được xử lý thành dạng bột mịn.

- Phân VSV dạng lỏng là một loại phân bón vi sinh, trong đó sinh khối VSV từ các vi sinh vật tuyển chọn được chế biến tạo nên dung dịch có chứa các tế bào sống của chúng.

- Phân VSV dạng viên được tạo thành khi sinh khối VSV được phối trộn và xử lý cùng chất mang tạo thành các hạt phân bón có chứa các VSV sống đã được tuyển chọn.

Trên thị trường phân bón hiện nay, phân bón VSV được kinh doanh dưới nhiều tên thương mại khác nhau. Chỉ tiêu VSV phân giải xenlulo trước đây được coi là chỉ tiêu chất lượng của phân bón VSV, song trong Tiêu chuẩn TCVN 7185-2002, VSV phân giải xenlulo không được xếp vào nhóm các VSV sử dụng trong sản xuất phân VSV mà chỉ được coi là tác nhân chuyển hóa xenlulo phục vụ sản xuất phân hữu cơ sinh học. Theo định nghĩa, phân bón VSV là sản phẩm chứa VSV sống đã được tuyển chọn có khả năng tạo ra các chất dinh dưỡng hoặc các hoạt chất sinh học trong quá trình bón vào đất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và cải tạo đất thì VSV tổng số chứa trong phân bón VSV không phải là chỉ tiêu chất lượng của phân bón vi sinh hoặc hữu cơ VSV.

III. MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN VI SINH VẬT CHỦ YẾU VÀ TÁC DỤNG CỦA CHÚNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP

1. Phân vi sinh vật cố định nitơ

a) Phân vi khuẩn nốt sần:

Nitơ là nguyên tố trơ khó liên kết hóa học với các nguyên tố khác, nếu không có chất xúc tác và các điều kiện đặc biệt khác, nó không ngừng bị chuyển hóa trong một chu trình khép kín do các tác động sinh học hay hóa học khác nhau. Dưới tác động của các hoạt động hóa học hoặc sinh học, nitơ phân tử được chuyển hóa thành đạm vô cơ, sau chuyển hóa thành đạm thực vật hoặc động vật thông qua quá trình đồng hóa. Một phần đạm thực vật dưới dạng tàn dư thực vật và một phần khác được người, động vật thải ra dưới dạng phân bã được trả lại cho đất. Đạm trong đất, một phần được cây trồng sử dụng, số còn lại bị mất do thẩm lậu, rửa trôi hoặc bay hơi do hoạt động của các vi sinh vật đất có khả năng phân giải đạm. Quá trình đất mất đạm chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các chế độ canh tác.

Nitơ đồng thời cũng là yếu tố dinh dưỡng vô cùng quan trọng không chỉ với các sinh vật bậc cao mà cả với các sinh vật nhỏ bé mà mắt thường không nhìn thấy được. Trong tự nhiên, nitơ phân tử tồn tại dưới dạng khí chiếm tới 78,16% thể tích không khí, song hợp chất nitơ này lại không được sử dụng làm nguồn dinh dưỡng cho sinh vật. Để cây trồng có thể sử dụng nguồn tài nguyên này làm chất dinh dưỡng, nitơ không khí phải được chuyển hóa thông qua quá trình cố định nitơ, trong đó nitơ phân tử được chuyển thành amôn. Quá trình cố định nitơ có thể xảy ra nhờ các tác nhân vật lý, hóa học hoặc sinh học, trong đó người ta quan tâm nhiều đến quá trình cố định đạm sinh học vì hiệu quả và tính an toàn của nó đối với môi trường.

Trong các hệ thống cố định nitơ sinh học, cố định nitơ cộng sinh giữa vi khuẩn nốt sần (Rhizobium) và cây bộ đậu là quan trọng nhất, ước tính đạt trên 80 triệu tấn mỗi năm, tương đương với lượng phân đạm vô cơ được sản xuất trên toàn thế giới năm 1990. Trong hệ thống cố định đạm sinh học này, mỗi nốt sần là một nhà máy phân đạm mini, trong đó cây chủ vừa là chỗ trú ngụ đồng thời cũng là nguồn cung cấp nguồn năng lượng cho quá trình cố định đạm của vi khuẩn và nhận lại lượng đạm từ quá trình cố định nitơ để cung cấp cho các quá trình tổng hợp đạm trong thân, lá, hoa quả.

Nếu lượng đạm cần thiết cho việc canh tác 1 ha lúa khoảng 180-240kgN/năm thì hệ thống cố định nitơ cộng sinh ở một số cây bộ đậu hoàn toàn có thể đáp ứng đủ. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của cây bộ đậu trong hệ thống luân canh và xen canh với các cây trồng khác.

Vi khuẩn Rhizobium tồn tại trong đất, có thể xâm nhập vào các lông hút của rễ cây bộ đậu và kích tác tạo thành nốt sần nên còn gọi là vi khuẩn nốt sần. Rhizobium thuộc nhóm vi khuẩn Gram âm (Gr-) sống hiếu khí, có dạng hình que, có khả năng di động và không sinh bào tử. Vi khuẩn phát triển tối ưu ở nhiệt độ 28 - 30oC và pH trung tính (6,5 -7,0). Nhu cầu dinh dưỡng của Rhizobium không có gì đặc biệt. Chúng có thể sử dụng đường, rượu và một vài loại axit làm nguồn năng lượng. Một số nòi Rhizobium cần phải lấy vitamin và chất kích thích sinh trưởng từ môi trường, một số khác có thể tự tổng hợp được. Căn cứ vào tính chuyên biệt của cây chủ, vi khuẩn nốt sần được phân thành 7 loài với các loại cây bộ đậu tương ứng. Theo cách phân loại này, các nòi vi khuẩn có khả năng tạo nốt sần với các cây bộ đậu thuộc một trong các nhóm này được xem như thuộc một loài mà không kể đến hoạt động cố định đạm có xảy ra hay không. Nói cách khác, cách phân loại này chỉ căn cứ vào khả năng tạo nốt sần mà không căn cứ trên lợi ích của cây chủ. Nhiều cây bộ đậu có tính chuyên biệt, có thể tạo nốt sần với nhiều nòi vi khuẩn Rhizobium khác nhau, nhưng sự tăng trưởng của chúng chỉ gia tăng khi các nốt sần được nòi vi khuẩn Rhizobium đặc biệt tạo ra. Như vậy việc chọn đúng cây chủ và nòi vi khuẩn tương hợp có vai trò vô cùng quan trọng đối hiệu quả của hệ thống cố định nitơ cộng sinh. Hệ thống phân loại mới các loài vi khuẩn nốt sần được đề cập trong cuốn "Phân loại vi khuẩn theo Bergey", theo đó dựa vào khả năng sinh trưởng phát triển trên môi trường thạch, vi khuẩn nốt sần được chia làm 2 nhóm: nhóm mọc nhanh và nhóm mọc chậm. Thuộc nhóm mọc nhanh gồm các nòi vi khuẩn nốt sần tạo khuẩn lạc trên môi trường thạch sau 3 -5 ngày nuôi cấy. Các nòi vi khuẩn mọc chậm cần thời gian tạo khuẩn lạc trên môi trường nuôi cấy lớn hơn 5 ngày.

Giữa cây bộ đậu và vi khuẩn nốt sần hình thành mối quan hệ cộng sinh nghĩa là quan hệ mà cả hai bên đều cần có nhau và dựa vào nhau để phát triển, trong đó vi khuẩn nốt sần tổng hợp đạm từ nitơ có trong khí quyển cung cấp cho cây và ngược lại cây trồng cung cấp các dưỡng chất cần thiết để vi khuẩn nốt sần sinh trưởng phát triển.

Nốt sần ở rễ cây bộ đậu được hình thành như sau: Khi tiếp xúc với rễ non của cây trong điều kiện thuận lợi, vi khuẩn nốt sần sinh sản nhanh làm tăng mật độ tại điểm tiếp xúc, đồng thời tiết ra một số hoạt chất làm mềm lớp biểu bì của lông hút. Lông hút quăn lại, tế bào vi khuẩn xâm nhập vào lông hút và tiếp tục sinh sản nhanh tạo thành sợi nhiễm. Sợi nhiễm xuyên qua lớp vỏ của rễ cây, kích thích vỏ rễ phát triển tạo ra lớp mô phân sinh, từ đó hình thành vỏ nốt sần. Bên trong nốt sần các tế bào tiếp tục phát triển và hình thành hệ thống mạch dẫn vận chuyển chất dinh dưỡng đến nốt sần và chuyển đạm hình thành trong quá trình cố định nitơ đến các bộ phận của cây.

Hình dáng, kích thước, màu sắc và vị trí của nốt sần trên rễ cây rất khác nhau,  phản ánh tình trạng liên kết giữa vi khuẩn nốt sần và hiệu quả cố định nitơ. Căn cứ vào hiệu quả cố định nitơ, hai loại nốt sần được phân biệt, đó là nốt sần hữu hiệu và nốt sần vô hiệu.

Nốt sần hữu hiệu thường to và tập trung thành chùm ở rễ cái và gần cổ rễ phụ. Độ lớn tối đa của nốt sần hữu hiệu đạt được vào thời kỳ cây ra hoa rộ. Nốt sần hữu hiệu có thịt màu đỏ do sắc tố Haemoglobin tạo ra, có chức năng điều tiết lượng oxy cần thiết để kích thích men cố định nitơ Nitrogenaza. Khi nốt sần hữu hiệu trở nên già, Haemoglobin bị biến đổi thành Leghaemoglobin có sắc tố màu xanh, khi đó nốt sần không còn khả năng cố định nitơ. Trong đất có đạm vô cơ, nốt sần hữu hiệu vẫn hình thành nhưng nhỏ và có đặc điểm gần như nốt sần vô hiệu. Khi lượng đạm trong đất cạn, nốt sần hữu hiệu phát triển làm tăng kích thước và lại có khả năng cố định nitơ. Điều này cần được chú ý đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Để phát huy tối đa hiệu lực của vi khuẩn nốt sần, không nên bón thúc đạm cho cây bộ đậu. Bón thúc đạm vừa tốn kém lại không sử dụng được hiệu quả cộng sinh giữa vi khuẩn nốt sần và cây bộ đậu. Molypden là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng trong quá trình cố định nitơ. Thiếu Molypden, nốt sần hữu hiệu vẫn phát triển bình thường về kích thước, song thịt nốt sần có màu xanh lục và có biểu hiện già cỗi.

Nốt sần vô hiệu có kích thước nhỏ và phân bố khắp hệ thống rễ. Nốt sần vô hiệu có thịt màu trắng xanh không thay đổi trong suốt thời gian phát triển đến khi già.

Dựa vào số lượng, kích thước và màu sắc thịt nốt sần, có thể đánh giá được hiệu quả của quá trình cố định nitơ của cây lạc và nòi vi khuẩn tương ứng. Rễ cây có mật độ nốt sần hữu hiệu cao, chứng tỏ việc sử dụng phân vi khuẩn nốt sần đã mang lại hiệu quả tốt.

Số lượng và khối lượng nốt sần được kiểm tra tốt nhất vào thời kỳ cây ra hoa rộ. Để đánh giá tác dụng của biện pháp nhiễm vi khuẩn nốt sần và khả năng lây nhiễm của vi khuẩn được bón, cần kiểm tra nốt sần ở thời kỳ cây 4 - 5 tuần tuổi.

b) Phân vi khuẩn nốt sần đối với cây bộ đậu:

Nhiễm khuẩn Rhizobium cho cây bộ đậu là một phần của công nghệ sinh học nông nghiệp. Phân vi khuẩn nốt sần đã được sản xuất công nghiệp và trở thành hàng hóa ở châu âu, Nam Mỹ và Úc. Năm 2000 giá trị hàng hóa của phân vi khuẩn nốt sần trên thế giới đạt khoảng 50 triệu USD, trong đó Mỹ là quốc gia có lượng sử dụng lớn nhất với giá trị là 20 triệu USD. Tại Ấn Độ, phân vi khuẩn nốt sần đã giúp tăng năng suất cây đậu đỗ trung bình tới 13,9% và mang lại lợi nhuận 1.204 Rupi/ha. ỞĐông Nam Á, Thái Lan là nước sử dụng phân vi khuẩn nốt sần nhiều nhất.

Theo Kong ngoen và CTV, số lượng phân vi khuẩn nốt sần được sử dụng ở Thái Lan đã tăng từ 3,36 tấn(1985) lên 203,28 tấn (1997) tương đương với giá trị hàng hóa là 406.571 USD. Thông qua việc sử dụng phân vi khuẩn nốt sần trong giai đoạn 1980-1993, Thái Lan đã tiết kiệm được 143.828 tấn urê. Lợi nhuận của việc nhiễm khuẩn cho lạc mang lại cho mỗi ha là 78,5 USD. Nhiễm khuẩn cho cây bộ đậu không đắt, chỉ cần đầu tư kỹ thuật thấp nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao và đặc biệt quá trình tổng hợp đạm sinh học này không gây ô nhiễm môi trường, mà còn góp phần nâng cao độ phì đất cải thiện môi trường sinh thái. Sản xuất, sử dụng phân vi khuẩn nốt sần nhằm tăng năng suất cây bộ đậu, giảm chi phí sản xuất và nâng cao thu nhập người nông dân là một tiến bộ kỹ thuật đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng thành công.

Tiếp cận với những tiến bộ kỹ thuật mới của thế giới, trong nhiều năm qua các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu thử nghiệm và triển khai thành công công  nghệ sản xuất phân vi khuẩn nốt sần cho cây bộ đậu. Trong hơn 20 năm qua, các công trình nghiên cứu và thử nghiệm phân vi khuẩn nốt sần tại Việt Nam cho thấy phân vi khuẩn nốt sần có tác dụng nâng cao năng suất lạc vỏ 13,8 -17,5% ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung và 22% ở các tỉnh miền Nam.

Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, sử dụng phân vi sinh vật nốt sần kết hợp với lượng đạm khoáng tương đương 30-40 kgN/ha mang lại hiệu quả kinh tế cao, năng suất lạc đạt được trong trường hợp này có thể tương đương như khi bón 60-90 kgN/ha. Hiệu lực của phân vi khuẩn nốt sần thể hiện đặc biệt rõ nét trên vùng đất nghèo dinh dưỡng và vùng đất mới trồng lạc.

Phân vi khuẩn nốt sần không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất lạc, tiết kiệm phân đạm khoáng mà còn làm tăng cường sức đề kháng cho lạc đối với một số bệnh vùng rễ. Ngoài ra dưới tác dụng của vi khuẩn nốt sần, lạc có sinh khối cao hơn. Tàn dư thực vật sau thu hoạch nếu được vùi trả lại đất thì đó sẽ là nguồn dinh dưỡng đạm và chất hữu cơ quan trọng cho các cây trồng vụ sau.

Đối với cây đậu tương và các cây bộ đậu khác, bón phân vi khuẩn nốt sần cũng có tác dụng tương tự. Kết quả khảo nghiệm phân vi khuẩn nốt sần tại Thuận Thành - Bắc Ninh năm 2000 cho thấy, năng suất hạt đậu tương bình quân ở công thức đối chứng là 52,15 kg/sào trong khi ở công thức bón phân hữu cơ vi sinh đạt 58,42 kg/sào, tăng năng suất 12%. Trong 20 hộ được thử nghiệm, có 5 hộ cho tăng năng suất từ 7 - 10 %, 1 hộ cho năng suất tăng trên 25% và 14 hộ cho năng suất tăng từ 10 đến 15 %. Lãi suất do sử dụng chế phẩm vi khuẩn nốt sần đối với đậu xanh đạt 4,0 - 11,0 đồng/1 đồng chi phí trong vụ xuân và 14 - 33 đ/ 1đồng chi phí trong vụ hè. Kết quả khảo sát và nghiên cứu của Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam, Viện nghiên cứu Cây có Dầu và Đại học Cần Thơ trong khuôn khổ Dự án mã số LWR2/98/97 của Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Úc(ACIAR) cho thấy phân vi khuẩn nốt sần có tác dụng tăng 11% năng suất đậu tương so với đối chứng. Trong một thực nghiệm, Đại học Cần Thơ đã chứng minh sử dụng phân vi khuẩn nốt sần thì năng suất đậu rau khi bón thêm 25 hoặc 50 kg N cho kết quả tương đương như bón 100 hoặc 150 kg N.

Phân vi khuẩn nốt sần sử dụng cho đậu rau cũng có tác dụng làm tăng sinh khối cây và tăng hàm lượng đạm tích lũy trong cây. Phế phụ phẩm sau thu hoạch của cây bộ đậu được nhiễm vi khuẩn nốt sần đã cung cấp dinh dưỡng đạm và chất hữu cơ cao hơn đối chứng. Vi sinh vật cố định nitơ cộng sinh cũng được sử dụng cho các cây trồng lâm nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Viện KH Lâm nghiệp cho thấy, hiệu lực của phân vi sinh vật đối với cây lâm nghiệp, trong đó vi khuẩn nốt sần có tác dụng nâng cao khả năng sinh trưởng phát triển của cây trồng đồng thời có hiệu quả rõ rệt đến khả năng tích lũy sinh khối của cây. Hiệu lực của vi khuẩn nốt sần đặc biệt rõ nét trong giai đoạn đầu sinh trưởng phát triển của cây trồng lâm nghiệp.

c) Phân vi khuẩn cố định nitơ tự do:

Vi khuẩn nốt sần muốn cố định được nitơ từ không khí bắt buộc phải cộng sinh với cây bộ đậu, còn một số vi khuẩn khác sống tự do trong đất và nước cũng có khả năng cố định nitơ không khí, tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng. Một trong số vi khuẩn quan trọng đó là azotobacter, một loại vi khuẩn háo khí, sống tự do và có mặt ở hầu hết các loại đất và hệ sinh thái nông nghiệp với số lượng khác nhau, trong đó đất giàu mùn có độ pH trung tính chứa nhiều azotobacter nhất. Phân bón vi sinh vật azotobacter có thể được coi là loại phân bón vi sinh vật được ứng dụng sớm nhất. Sau đó trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã khám phá ra azotobacter không chỉ có khả năng cố định nitơ mà còn có khả năng sinh tổng hợp hoạt chất kích thích sinh trưởng thực vật, một số vitamin và hoạt chất ức chế sự sinh trưởng, phát triển của một số vi nấm gây bệnh vùng rễ một số cây trồng.

Sản phẩm phân bón vi sinh vật cố định nitơ tự do từ vi khuẩn azotobacter và Clostridium đã được sản xuất tại Mỹ, Úc và sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới với tên e.2001 mang lại hiệu quả kinh tế xã hội tương đối cao. Ở Việt Nam, sản phẩm e.2001 đã được khảo nghiệm hiệu lực đối với cây trồng trên đồng ruộng và được đưa vào Danh mục các loại phân bón được phép sử dụng tại Việt Nam.

Cũng như vi khuẩn azotobacter, Clostridium là một loại vi khuẩn có khả năng cố định nitơ sống tự do trong đất và nước. Clostridium là loại vi khuẩn hình que, sinh bào tử và chỉ có thể sinh trưởng, phát triển trong điều kiện yếm khí. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của sản phẩm e.2001 trên cà chua, rau diếp và bầu cho thấy, e.2001 có tác dụng tốt trong việc nâng cao năng suất rau, trong đó mức độ tăng có thể từ 33.33% đến 56% tùy từng loại rau.

Ngoài tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, góp phần tiết kiệm một phần đáng kể phân bón vô cơ, phân vi sinh vật thông qua các hoạt chất sinh học của chúng còn có tác dụng điều hoà, kích thích quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng, đồng thời nâng cao sức đề kháng của cây trồng đối với một số sâu bệnh:

Kết quả nghiên cứu trên cây khoai tây cho thấy phân bón vi sinh vật có tác dụng làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh do nấm và vi khuẩn gây nên như bệnh héo xanh, thối đen rễ, lở cổ rễ ...

Vi khuẩn sống hội sinh trong vùng rễ cây trồng cũng có khả năng cố định nitơ không khí, tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng. Sản phẩm phân bón vi sinh vật cố định nitơ sống hội sinh được nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất hiện nay là phân vi sinh vật cố định nitơ sản xuất từ azospirillum. Đây là loại vi khuẩn gram âm, có dạng xoắn từ nửa vòng đến vài vòng, sống hội sinh trong vùng rễ cây hòa thảo, cây bộ đậu, bông và rau. Trong vùng rễ cây, azospirillum nhận các chất hữu cơ từ chất tiết rễ cây làm nguồn dinh dưỡng, tổng hợp đạm cung cấp trở lại cho cây và đất. Quá trình cố định đạm do azospirillum được xảy ra trong vùng phân cách hiếu khí và yếm khí của rễ cây do vậy người ta còn gọi azospirillum là loại vi khuẩn vi hiếu khí. Giống như azotobacter, azospirillum  ngoài khả năng cố định nitơ còn có thể sinh tổng hợp một số hoạt chất kích thích sinh trưởng thực vật. Hai giống azospirillum được biết đến nay là azospirillum lipoferum và azospirillum brasilense. Sản phẩm phân vi sinh vật cố định nitơ từ azospinllum được nghiên cứu và đưa vào sử đụng tại nhiều nước trên thế giới. Tại Ấn Độ, sử dụng phân vi sinh vật cố định nitơ cho lúa, cao lương và bông làm tăng năng suất trung bình 114%, 18,2% và 6,8% hay mang lại lợi nhuận 1015 rupi, 1149 rupi và 343 rupi/ha. Tại Liên bang Nga, việc bón chế phẩm vi sinh vật cố định nitơ làm tăng năng suất khoai tây 12,8 tạ/ha; năng suất cà chua tăng 28,0 tạ/ha; năng suất ngô hạt tăng 22,4 tạ/ha; năng suất cây bắp cải tăng 75,2 tạ/ha.

Việt Nam, phân vi sinh vật cố định nitơ hội sinh được nghiên cứu và phát triển từ những năm 90 của thế kỷ XX trong khuôn khổ của đề tài khoa học cấp Nhà nước KC.08.01. Sản phẩm được gọi dưới tên azogin, Rhizolua. Các thử nghiệm sử dụng phân vi sinh vật cố định nitơ hội sinh(azogin) ở 15 tỉnh miền Bắc, Trung và miền Nam trên điện tích hàng chục ngàn hecta cho thấy, trong cùng điều kiện sản xuất, ruộng lúa được bón phân azogin đều tốt hơn so với đối chứng, biểu hiện qua bộ lá phát triển tốt hơn, tỷ lệ nhánh hữu hiệu và số bông/khóm nhiều hơn đối chứng. Năng suất hạt tăng 4 - 25%, đặc biệt nhiều nơi bón azogin và giảm 20% phân khoáng vẫn cho năng suất lúa cao hơn so với đối chứng.

Đối với rau (xà lách, rau diếp, khoai tây...), bón phân azogin cũng làm tăng sản lượng thu hoạch 20 - 30%. Việc bón phân azogin còn làm tăng khả năng chống chịu của cây và giảm lượng nitrat tồn dư trong rau. Hiệu quả kinh tế do sử dụng phân vi sinh vật cố định nitơ hội sinh là rõ rệt. Nếu đầu tư 1 đồng cho việc sử dụng phân vi sinh, lãi suất thu về từ 16,2 đến 19,1 đồng cho cây lúa.

Bón phân vi sinh vật cố định nitơ cho cây trồng có thể thay thế một phần phân đạm khoáng. Kết quả nghiên cứu của các đề tài cấp Nhà nước KC.08.01 (1991 - 1995) và KHCN.02.06 (1996 - 2000) cho biết, có thể tiết kiệm được lượng phân đạm khoáng nhất định, từ 10,80 đến 22,40 kgN/ha/vụ tùy theo từng loại đất và mùa vụ gieo trồng.

Bên cạnh các sản phẩm vi sinh vật cố định nitơ nêu trên còn có một số sản phẩm vi sinh vật cố định nitơ được sản xuất từ tảo lam hay các vi khuẩn cố định nitơ khác như vi khuẩn nội sinh (Glucocetobacter, Helbaspirillum, Burkholderia, Serratia, enterobacter, Klebsiella...), vi khuẩn cộng sinh với thực vật bậc cao. Do các sản phẩm này chưa có ở Việt Nam hoặc hầu như không còn được áp .dụng trong thực tế sản xuất nên không được đề cập trong nội dung này.

2. Phân vi sinh vật phân giải photphat khó tan (phân lân vi sinh vật)

Photpho là nguyên tố quan trọng thứ 2 trong 3 nguyên tố dinh dưỡng đa lượng chính của cây trồng (N, P, K), là thành phần của axit nucleic, phytin, phospholipit. Photpho có tác động trực tiếp đến quá trình tích lũy đường, protein, lipid, vitamin... của cây trồng. Đặc biệt photpho là thành phần không thể thiếu của ATP, ADP, AMP (phân tử trao đổi năng lượng), kiểm soát, điều khiển quá trình trao đổi năng lượng của cây (hô hấp, quang hợp...). Photpho có tác dụng thúc đẩy phát triển và tăng khả năng chống chịu của cây trồng. Thiếu photpho, sự hình thành tế bào mới bị chậm lại, cây còi cọc ít phân cành, đẻ nhánh, lá có màu xanh lục bẩn, không sáng. Thiếu photpho, năng suất cây trồng bị giảm sút nghiêm trọng, ngay cả khi được cung cấp đủ nitơ.

Trong tự nhiên, photpho tham gia vào các quá trình chuyển đổi vật chất bằng cả con đường hóa học và sinh học. Sự xuất hiện, tồn tại và chuyển hóa của photpho trong tự nhiên diễn ra theo một quy trình khép kín gọi là vòng tuần hoàn của photpho thông qua 4 quá trình sau:

- Khoáng hóa: Đó là quá trình chuyển hóa photpho dạng hữu cơ thành photpho dạng vô cơ. Nguồn photpho hữu cơ chính trong đất được tạo bởi tồn dư thực vật, phế thải động vật và thân xác vi sinh vật. Cây trồng bình thường chứa khoảng 0,05 - 0,5% P2O5dưới dạng phytin, phospholipit và axit nucleic.

- Phytin là muối Ca, Mg của inositol hexaphospholipid acid, chứa 26% P2O5tồn tại chủ yếu dưới dạng lecithin - hợp chất của glycerol, axit béo, photphat, cholin và cephalin. Phytin dễ bị phân hủy bởi enzym Phytaza và lecithinasa của vi sinh vật hoặc chất tiết rễ cây, tạo thành orthophosphat là nguồn photpho hữu hiệu đối với cây trồng. axit nucleic được tạo thành từ nhân pyrin hoặc pyrimidin đường pantoza và photphat, bị phân hủy bởi men nucleasa tạo thành orthophotphat.

- Cố định sinh học (immobilization) là quá trình tái sử dụng photpho vô cơ nhờ vi sinh vật và qua đó chuyển đổi photpho dạng vô cơ thành photpho dạng hữu cơ trong Protoplasm của vi sinh vật. Photpho là nguyên tố không thể thiếu được trong quá trình tổng hợp tế bào của vi sinh vật. Nấm a.niger cần 0,2 - 0,4% phôtpho cho việc oxy hóa 100% glucoza. Xạ khuẩn cần tỷ lệ tương ứng là 0,27 - 0,63%... Nếu sử dụng xenluloza làm nguồn năng lượng thì tỷ lệ này là .0,35 - 0,45% cho 100% xenluloza. Trung bình nếu vi sinh vật sử dụng 100g cacbon thì cần phải cung cấp thêm 0,3g photpho tương đương với tỷ lệ 0,3%. Cây trồng chứa khoảng 40 - 45% cacbon, để quá trình phân hủy xảy ra tốt thì tỷ lệ C:P phải lớn hơn 200: 1, tốt nhất khoảng 300: 1.

- Cố định hóa học (Fixation) là quá trình chuyển đổi photpho dạng tan sang dạng khó tan dưới tác dụng của các phản ứng hóa học giữa ion PO42- và cation kim loại. Trong đất chua PO42- kết hợp với ion Fe3+, Al3+tạo thành orthophosphat, tác dụng với hydroxit Fe, Mn, Al hoặc tác dụng với clay silicat tạo thành cao lanh. Trong đất kiềm PO42- tác dụng với Ca2+ tạo thành muối can xi hai, ba, trong một số trường hợp tạo thành hydroxy apatit. Quá trình cố định phụ thuộc vào tính chất đất và điều kiện canh tác. Theo các số liệu nghiên cứu, khoảng 2/3 lượng lân được bón bị đất giữ lại dưới dạng hấp phụ hoặc cố định, trong đó hấp phụ thông qua trao đổi ion sẽ trở thành dạng tan, còn cố định thì không thể chuyển đổi thông qua ion trao đổi.

Vi sinh vật phân giải lân, vi sinh vật chuyển hóa lân (Phosphate Solubilizing Microorganisms - PSM) là các vi sinh vật có khả năng chuyển hóa hợp chất photpho khó tan thành dạng dễ tiêu cho cây trồng sử dụng. Các vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan được biết đến nay là các loài: Pseudomonas, Micrococus, Bacillus, Flavobacterium, Penicillium, Sclelotium, aspergillus. Các vi sinh vật này không chỉ phân giải photphat canxi mà cả photphat nhôm, sắt, mangan và các dạng khác kể cả quặng. Vi sinh vật không chỉ chuyển hóa photphat vô cơ, mà còn có khả năng khoáng hóa các hợp chất lân hữu cơ tạo ra sản phẩm mà cây trồng có thể hấp thu được.

Cơ chế của quá trình phân giải photphat đến nay vẫn chưa được hiểu đầy đủ và còn nhiều tranh cãi. Sản sinh axit hữu cơ có thể là nguyên nhân chủ yếu, song CO2, H2S, axit, kiềm cũng là các yếu tố được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến. Trước đây người ta cho thấy, ..khi vi sinh vật phát triển thì pH môi trường nuôi cấy bị giảm. Người ta đã tìm thấy vi sinh vật (VSV) đã sản sinh ra axit axetic, lactic, formic, gluconic, oxalic, succinic, malic, citric... Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô (cũ) và Ấn Độ cho thấy, lượng lân hữu hiệu trong đất tăng lên nếu được bón thêm các chất hữu cơ và humat. Điều đó cho thấy axit hữu cơ sản sinh do vi sinh vật từ các chất hữu cơ đã giúp cho việc phân giải photphat khó tan. Nghiên cứu đất, người ta cũng phát hiện các axit hữu cơ tương tự được sản sinh từ vi sinh vật. Axit hữu cơ làm giảm pH và qua đó trợ giúp cho việc tạo thành hợp chất bền vững với các cation Ca2+, Mg2+, Fe3+, Al3+. Hợp chất này bền vững hơn các hợp chất chứa photpho. Hiện tượng này xảy ra tương tự trong việc phòng ngừa sự cố định photpho của phân lân vô cơ trong quá trình phong hóa.

Liên Xô (cũ), người ta sử dụng "Phosphobacterin" sản phẩm chứa vi khuẩn B. megarerium var. phosphaticum để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng. Tương tự ở Ấn Độ, sản phẩm PSM cũng được nghiên cứu và ứng dụng. Các nghiên cứu trên lúa mì, đại mạch, ngô, rau, quả đều cho thấy cây trồng có phản ứng tích cực với việc tẩm nhiễm PSM, làm tăng năng suất cây và khả năng sử dụng P, tăng chất lượng sản phẩm. Theo Gaur (1992), nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã chứng minh ở Liên Xô (cũ), năng suất cây trồng tăng 5 –10% và có trường hợp tăng 30% khi sử dụng PSM; hiệu quả này ở ấn Độ tương ứng là 10-20% hoặc tương đương với bón 50kg P2O5/ha. Kết quả nghiên cứu mới nhất ở Canađa và Ấn Độ cho thấy, PSM có thể thay thế 50 - 75% lượng lân cần bón bằng quặng nghèo P2O5mà năng suất, chất lượng không thay đổi. Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam khẳng định, khi sử dụng PSM năng suất cây trồng tăng 15% hoặc tiết kiệm được 1/3 lượng lân cần bón. Ngoài tác dụng phân giải photphat khó tan, PMS còn có khả năng sản sinh các chất kích thích sinh trưởng thực vật hoặc chất kháng sinh giúp cây trồng phát triển tốt hơn, chống chịu tốt hơn đối với điều kiện bất lợi từ bên ngoài.

Phân vi sinh vật phân giải lân được nghiên cứu và đưa vào ứng dụng ở Việt Nam ngay từ những năm 90 thế kỷ XX, trong đó vi sinh vật phân giải lân sau khi nhân sinh khối được tẩm nhiễm vào chất mang, tạo chế phẩm vi sinh vật phân giải lân hoặc phối trộn với cơ chất hữu cơ tạo thành phân lân hữu cơ vi sinh vật.

Hiệu lực của vi sinh vật trong việc cung cấp dinh dưỡng lân cho cà phê được Nguyên Khả Hòa (1994) trên cơ sở sử dụng đồng vị đánh dấu 32P, xác định tương đương bằng 34,3 kg P/ha.

Kết quả khảo nghiệm ở nhiều nơi cho thấy, phân vi sinh vật phân giải photphat khó tan có thể nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân khoáng 20 - 30% so với đối chứng; đồng thời có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng 5 – 15% tùy loại đất và cây trông. Nhiều thực nghiệm trong khuôn khổ đề tài KHCN 02.06 ở nhiều địa phương trong cả nước đã xác định việc sử dụng vi sinh vật phân giải lân có thể thay thế 30 - 50% lượng phân lân cần bón bằng quặng photphorit với hàm lượng lân tổng số tương đương mà năng suất cây trồng không bị giảm sút.

3- Phân vi sinh vật hỗn hợp

Đất trồng không chỉ thuần túy là tập hợp các nguyên tố hóa học, mà đất trồng còn là một thế giới sống, nơi trú ngụ và sinh sống của hàng triệu triệu sinh vật, từng giờ, từng phút có hàng loạt các phản ứng lý, hóa, sinh học đang diễn ra. Thông qua các phản ứng lý, hóa, sinh học và các hoạt động của sinh vật sống, đất trồng mới có điều kiện để hồi phục và cân bằng thông qua các quy luật của tự nhiên. Nếu phá vỡ các quy luật này, đất sẽ bị hủy hoại và không phát huy được vai trò vừa là môi trường sống vừa là nơi phân hủy và lưu giữ điều kiện sống. Do hệ vi sinh vật rất đa dạng và phong phú, mỗi vi sinh vật trong đất đều chịu nhiều tác động qua lại của các vi sinh vật khác cũng như điều kiện môi trường nên vai trò của chúng trong các điều kiện khác nhau không giống nhau. Hỗn hợp vi sinh vật cố định nitơ, phân giải lân từ lâu đã được nghiên cứu và đưa vào ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới.

Tại Việt Nam, phân vi sinh vật hỗn hợp từ các chủng vi sinh vật cố định nitơ và vi sinh vật phân giải lân cũng có tác dụng tăng năng suất cây trồng và tiết kiệm một phần phân khoáng. Kết quả khảo nghiệm phân vi sinh vật hỗn hợp - sản phẩm của đề tài Khoa học công nghệ KHCN02.06 trên diện rộng đã chứng minh vai trò quan trọng của hỗn hợp vi sinh trong sản xuất nông, lâm nghiệp.

Đối với lúa, phân vi sinh vật hỗn hợp làm tăng năng suất so với đối chứng 14,7 - 15,2% trong vụ xuân và 15 ,0 - 15,7% trong vụ mùa, mang lại lợi nhuận cao hơn đối chứng 1.017.700 - 1.071.300 đồng/ha trong vụ xuân và 1.282.600 - 914.400 đồng/ha trong vụ mùa.

Thực nghiệm trên diện tích rộng, năng suất lúa tăng 10,7% đến 35,3% so với đối chứng. Ởđậu tương, phân hỗn hợp vi sinh cũng làm tăng 16,3 - 19,5% năng suất và mang lại lợi nhuận cao hơn đối chứng từ 1.336.000 đến 1.525.100 đồng/ha. Phân hỗn hợp vi sinh vật được thử, khảo nghiệm trên các đối tượng cây công nghiệp và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đối với người sản xuất.

Tại các vườn ươm cây lâm nghiệp, bón phân hỗn hợp vi sinh vật từ nấm rễ, vi khuẩn phân giải lân làm tăng chiều cao và sinh khối cây trồng; trong đó chiều cao của cây ở các công thức thí nghiệm bón chế phẩm đều có kết quả vượt trội hơn so với công thức đối chứng không nhiễm. Chế phẩm hỗn hợp Mycorhiza + vi sinh vật phân giải lân có hiệu lực vượt trội hơn so với chế phẩm đơn lẻ, làm tăng chiều cao cây 11,29 - 23,42%, tăng đường kính cổ rễ 13,35 - 23,49%, tăng trọng lượng tươi, trọng lượng khô của các cây con 14,38 -23,11% và 1 6,98 - 36,48%.

4. Phân vi sinh vật chức năng

Hiệu quả của vi sinh vật trong việc làm tăng khả năng sinh trưởng phát triển cây trồng, tiết kiệm phân bón hóa học cũng như tăng năng suất, chất lượng nông sản đã được khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới. Các sản phẩm vi sinh như phân bón vi sinh vật cố định nitơ, phân giải photphat khó tan, chế phẩm vi sinh vật kích thích sinh trưởng thực vật, chế phẩm vi sinh vật phòng trừ bệnh cây trồng... có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Vi sinh vật tác động đến cây trồng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự tác động trực tiếp của vi sinh vật đến cây trồng thể hiện qua sự tổng hợp, khoáng hóa hoặc chuyển hóa các chất dinh dưỡng xảy ra trong quá trình chuyển hóa vật chất của vi sinh vật như quá trình cố định nitơ, phân giải lân, sinh tổng hợp auxin, giberellin, etylen, v.v...

Những vi khuẩn này có khả năng giúp cây trồng tăng khả năng huy động và dễ dàng sử dụng các nguồn dinh dưỡng từ môi trường. Tác động gián tiếp đến sinh trưởng của cây trồng xảy ra khi các chủng vi sinh vật có khả năng làm giảm bớt hoặc ngăn chặn các ảnh hưởng có hại từ môi trường hoặc từ các vi sinh vật bất lợi đối với thực vật, trong đó vi sinh vật có thể cạnh tranh dinh dưỡng với vi sinh vật bất lợi hoặc sinh tổng hợp các chất có tác dụng trung hoà, phân huỷ, chuyển hóa các tác nhân có hại hoặc tiêu diệt, ức chế các vi sinh vật bất lợi. Mỗi loại vi sinh vật trong tự nhiên có thể có một hoặc cả hai tác động nêu trên đối với cây trồng. Bằng phương pháp khuếch tán hoạt chất sinh học trong môi trường thạch, các nhà khoa học đã chứng minh được khả năng ức chế và tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh vùng rễ cây trồng của một số vi sinh vật đối kháng.

 Nghiên cứu công nghệ sản xuất hỗn hợp vi sinh vật cố định nitơ, phân giải lân, sinh tổng hợp kích thích sinh trưởng thực vật và vi sinh vật đối kháng vi sinh vật gây bệnh vùng rễ như một loại phân bón chức năng sử dụng trong sản xuất nông lâm nghiệp là kết quả của đề tài cấp Nhà nước KC.04.04 thuộc chương trình "Nghiên cứu khoa học và phát triển Công nghệ sinh học" giai đoạn 2001-2004 do Viện KHKTNN Việt Nam chủ trì với sự cộng tác của Viện Công nghệ sinh học (Viện KH và CN Việt Nam), Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Viện Công nghệ sinh học (Đại học quốc gia Hà Nội), Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Viện Công nghệ sau thu hoạch và Viện KHNN miền Nam. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh phân vi sinh vật đa chủng, chức năng có tác dụng tiết kiệm phân khoáng, giảm thiểu thuốc bảo vệ thực vật hóa học và góp phần tích cực cho việc xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Phân bón loại này có tác dụng làm tăng năng suất khoai tây từ 16,8 1 - 39,70% , đặc biệt khi giảm 20% dinh dưỡng NPK, năng suất khoai tây vẫn cao hơn đối chứng từ 13,54 -36,70% tùy theo giống. Khi sử dụng hỗn hợp vi sinh vật, tỷ lệ bệnh héo xanh vi khuẩn tự nhiên đã giảm từ 5% xuống còn 3%, cá biệt có những công thức không có biểu hiện của bệnh héo xanh. Xu hướng tương tự cũng được xác nhận tại thí nghiệm chính quy diện hẹp tại SaPa (Lào Cai), trong đó phân bón hữu cơ vi sinh vật chức năng có tác dụng tăng năng suất khoai tây từ 16,67 -19,27% và giảm đáng kể tỷ lệ bệnh héo xanh (từ 21,45% xuống còn <10%). Trong trường hợp giảm 10% lượng đạm và lân cần bón, năng suất khoai tây vẫn tăng 6,25 - 1 1 ,35%.

Thí nghiệm đánh giá tác dụng của phân hữu cơ vi sinh vật chức năng đối với cà chua được triển khai tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam và tại HTX Tiền Phong, Mê Linh, Vĩnh phúc. Ởthí nghiệm chậu vại, phân hữu cơ vi sinh vật chức năng làm tăng năng suất cà chua 18,52% và hạn chế được bệnh héo xanh vi khuẩn. Khi giảm 20% lượng dinh dưỡng NPK, năng suất cà chua hầu như không có sự sai khác so với đối chứng. Trong khi công thức nhiễm bệnh héo xanh có tỷ lệ cây chết là 80% thì công thức sử dụng phân vi sinh vật chức năng với 100% và 80% nền tỷ lệ này là 0% và 10% Thí nghiệm đồng ruộng diện hẹp cũng khẳng định phân hữu cơ vi sinh vật chức năng đã tăng năng suất cà chua 20,5% và giảm tỷ lệ bệnh héo xanh từ 33,5% xuống 24,1%.

Xu hướng tích cực của phân vi sinh vật chức năng cũng được xác định tương tự tại các thí nghiệm chậu vại và đồng ruộng đối với lạc, thông mã vĩ, keo lai, keo tai tượng, bông, cà phê và tiêu. Đối với lạc trồng tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, phân vi sinh vật chức năng có tác dụng làm giảm tỷ lệ bệnh từ 70% xuống còn 2% và tăng sinh khối khô thân lá tới 32,14% sau 45 ngày gieo trồng. Kết quả thí nghiệm đồng ruộng chính quy diện hẹp tại Nông trường Thanh Hà (Kim Bôi - Hòa Bình) cho thấy, phân vi sinh vật chức năng đã làm tăng năng suất lạc 13,06%. Khi giảm 10% lượng dinh dưỡng đạm và lân thì năng suất lạc ở công thức đối chứng và thí nghiệm hầu như không có sự sai khác đáng kể. Đánh giá mức độ bệnh héo xanh vi khuẩn cho thấy, sử đụng phân hữu cơ vi sinh vật chức năng đã giảm tỷ lệ bệnh héo xanh vi khuẩn từ 36,90% xuống còn dưới 20%.

Sử dụng phân hữu cơ vi sinh vật chức năng cho thông mã vĩ, keo lai và keo tai tượng đều có sự khác biệt có ý nghĩa về chiều cao và đường kính cổ rễ so với đối chứng. Trọng lượng khô thân cây cao hơn so với đối chứng từ 41,11% đến 56,80%. Tính chức năng của phân bón thể hiện thông qua việc giảm tỷ lệ bệnh lở cổ rễ từ 5,5 -35,7% xuống còn 0%.

Kết quả đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh vật chức năng trên một số cây công nghiệp cho thấy phân bón loại này có tác dụng tăng năng suất đối với bông là 12,40%, cà phê > 26,87%, tiêu 22,85% và giảm tỷ lệ bệnh vùng rễ từ 3,3% xuống còn 0% đối với bông, cà phê; từ 17,5% xuống còn 5,82% đối với tiêu mới trồng và từ 1 2,3% xuống còn 6,00% đối với tiêu kinh doanh.

Kết quả khảo nghiệm diện rộng trên một số cây trồng đã xác định phân hữu cơ VSV chức năng làm tăng năng suất 20,5% và giảm 28,06% tỷ lệ cây chết đối với cà chua; tăng năng suất 30,98-72,38 % và giảm tỷ lệ bệnh héo xanh từ 9% xuống 1,5% đối với khoai tây; tăng năng suất lạc 13,33-19,07%; tăng 15% năng suất và giảm 56% tỷ lệ cây chết đối với tiêu, tăng năng suất 1 6,42% và giảm tỷ lệ cây chết 100% đối với cà phê. Hiệu quả kinh tế trên 1 hecta đất canh tác khi sử dụng phân hữu cơ vì sinh vật chức năng so với đối chứng đạt 6,45-22,06 triệu đồng đối với cà chua; 4,26-7,60 triệu đồng đối với khoai tây; 2,70- 3,05 triệu đồng đối với lạc; 25,12 triệu đồng đối với tiêu; 743.600đ đối với bông và 12,31 triệu đồng đối với cà phê.

Phân vi sinh vật chức năng đã được bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn công nhận cho áp dụng rộng rãi trong sản xuất.

IV. MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU LỰC CỦA PHÂN VI SINH VẬT

Hiệu lực của phân vi sinh vật phụ thuộc rất lớn vào hoạt tính sinh học của vi sinh vật tuyển chọn và khả năng thích ứng của chúng với điều kiện môi trường sử dụng phân vi sinh vật. Nhằm bảo đảm cho vi sinh vật sinh trưởng, phát triển và phát huy được hoạt tính sinh học của mình, cần thiết phải xác định được các yếu tố ảnh hưởng để từ đó kiểm soát chúng nhằm tạo điều kiện tối ưu cho hoạt động của vi sinh vật. Một số tác nhân chính ảnh hưởng đến hiệu lực của phân bón vi sinh vật được xác định như sau:

1. Thuốc diệt nấm, trừ sâu

Các loại hóa chất xử lý hạt giống chứa các kim loại nặng như thủy ngân, kẽm, đồng hay chì đều độc với vi sinh vật. Không nên nhiễm trực tiếp vi sinh vật lên hạt giống đã xử lý hóa chất diệt nấm chứa kim loại nặng. Trong trường hợp này, nên sử dụng phương pháp nhiễm vi sinh vật vào đất. Các hóa chất diệt nấm hữu cơ tuy ít độc hơn song cũng không tốt cho vi khuẩn.

Các chất này có thể không tiêu diệt vi sinh vật nhưng sẽ làm yếu hoặc làm mất hoạt tính sinh học của chúng. Không nên sử dụng phương pháp nhiễm hạt, nghĩa là trộn hạt giống với phân vi sinh vật khi hạt giống đã xử lý bằng hóa chất diệt nấm, trừ sâu.

Cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sự tồn tại và hoạt tính của vi sinh vật có ích. Các thuốc trừ sâu thông dụng như Carbofuran, Phorate, aldicarb đã được thử nghiệm và cho thấy với liều lượng khuyến cáo sẽ không ảnh hưởng đến sự tổn tại và hoạt tính sinh học của vi sinh vật sử dụng làm phân bón vi sinh vật. 

2. Các dinh dưỡng khoáng

a) Đạm

Đạm khoáng trong đất ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình cố định nitơ và hình thành nốt sần của cây bộ đậu nói chung. Khi trong đất có đạm, cây trồng sử dụng trực tiếp nguồn đạm này ngay cả khi có nhiều nốt sần hữu hiệu. Các nốt sần này có kích thước nhỏ và không hoạt động trong suốt thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây nếu có lượng đạm lớn tồn tại trong đất. Khi lượng đạm này hết đi, nốt sần hữu hiệu trở lại hoạt động cố định nitơ bình thường và tổng hợp đạm cung cấp cho cây. Tuy nhiên nếu đất thiếu đạm ngay giai đoạn đầu, cây trồng sẽ kém phát triển, ảnh hưởng gián tiếp đến quá trình hình thành nốt sần và hiệu quả cố định nitơ cộng sinh. Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, khi cây bộ đậu được bón mồi một lượng đạm tương đương với 20N -30N/ha sẽ phát triển tốt hơn và cho năng suất cao nhất. Nếu sử dụng lượng đạm khoáng cao hơn, hiệu quả cố định nitơ sẽ bị giảm.

Kết quả này hoàn toàn phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO) là đối với vùng nhiệt đới nên bón mồi một lượng phân khoáng nhất định để kích thích sự tăng trưởng của cây, gia tăng khả năng quang hợp nhưng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của nốt sần và quá trình cố định nitơ sinh học. Điều này cũng đúng đối với nhóm vi sinh vật cố định nitơ hội sinh. Để phát huy hiệu quả của phân bón vi sinh vật cần thiết phải cân đối được khả năng cung cấp dinh dưỡng của vi sinh vật và nhu cầu của cây trồng. Nếu bón quá nhiều phân khoáng sẽ gây nên lãng phí và ngược lại nếu cung cấp không đủ, cây trồng sẽ bị thiếu dinh dưỡng. Do vậy khi sử dụng phân bón vi sinh vật nhất thiết phải tuân thủ theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

b) Phân lân

Tùy từng loại phân bón vi sinh vật mà ảnh hưởng của lân đối với hiệu lực của nó nhiều hay ít. Photpho là thành phần của enzyme nitrogenaza - men cố định nitơ. Thiếu lân trong giai đoạn dài sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của vi khuẩn cũng như nốt sần và quá trình cố định nitơ. Kết quả nghiên cứu trên đất trồng lạc ở miền Bắc cho thấy, với liều lượng lân 50 - 80 kg P2O5/ha năng suất lạc tăng 3 - 4 tạ/ha. Bón lân với lượng cao hơn, năng suất lạc không tăng thêm. Vi sinh vật phân giải lân có khả năng khoáng hóa lân hữu cơ hoặc chuyển hóa lân vô cơ khó tan thành lân dễ tiêu cung cấp cho đất và cây trồng, nghĩa là chỉ có tác dụng khi có sẵn nguồn lân vô cơ hoặc hữu cơ trong đất. Sử dụng phối hợp vi sinh vật cố định nitơ, vi sinh vật chuyển hóa lân trên cơ sở có sẵn nguồn lân trong đất sẽ nâng cao hiệu lực của cả hai loại phân bón vi sinh vật này.

c) Phân kali

Một số loài vi khuẩn có nhu cầu về kali. Vai trò chính của kali là tạo áp suất thẩm thấu trong quá trình trao đổi chất của vi khuẩn cũng như trong dung dịch huyết tương của cây trồng. Trong khi kali có vai trò thứ yếu đối với hệ thống cố định nitơ cộng sinh, nó lại rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng. Theo nhiều nhà khoa học, cần bón đúng và bón đủ lượng kali theo yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây. Vi khuẩn chuyển hóa kali cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đưa vào áp đụng, đặc biệt là ở Trung Quốc. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, người ta vẫn chưa có sự giải thích thoả đáng về cơ chế hoạt động của vi sinh vật trong quá trình chuyển hóa kali.

Ngoài các yếu tố dinh dưỡng đa lượng chính nêu trên, các nguyên tố trung lượng như Ca, Mg, S và vi lượng như Fe, Mo, Co, Ni ... cũng có nhiều ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các vi sinh vật, trong đó đặc biệt các nguyên tố như S, Mo, Fe là thành phần của enzym cố định nitơ - nitrogenaza. Thiếu các yếu tố dinh dưỡng này, quá trình cố định nitơ cộng sinh không hoạt động, vì vậy để đảm bảo hiệu quả cố định nitơ và năng suất cây trồng cần thiết phải cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết nêu trên.

3. Độ chua của đất (pH đất)

Vi sinh vật đất nói chung và vi sinh vật sử dụng làm phân bón vi sinh nói riêng đều bị ảnh hưởng bởi độ pH đất, hoạt tính sinh học của chúng sẽ bị giảm trong điều kiện pH đất thấp vì tác động trực tiếp của pH thấp đến sự sinh trưởng của vi khuẩn hoặc gián tiếp thông qua việc hạn chế trao đổi chất dinh dưỡng.

Đất có pH thấp thường chứa ít các nguyên tố Ca, Mg P, Mo... và chứa nhiều nguyên tố độc hại với cây trồng như nhôm và mangan. Tuy nhiên vẫn có nhiều loại cây và chủng vi sinh vật tương ứng có độ mẫn cảm cao với pH thấp và ở điều kiện này, chúng vẫn có khả năng sinh tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học. Đặc biệt người ta đã nghiên cứu, tuyển chọn và tạo ra được các vi sinh vật có khả năng thích ứng trong dải pH rộng và do vậy nhiều sản phẩm phân vi sinh vật có khả năng sử dụng cho mọi loại đất trồng với các độ pH khác nhau.

4. Nhiệt độ

Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của vi khuẩn mà còn ảnh hưởng cả đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng. Trong khi nhiệt độ đất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sống của vi sinh vật đất và quá trình sinh tổng hợp các hoạt chất sinh học của chúng thì nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của cây. Hoạt động của vi sinh vật chỉ đạt được mức độ cực đại trong khoảng nhiệt độ nhất định và bị ảnh hưởng rất lớn bởi độ ẩm đất. Dải nhiệt độ tốt nhất đối với các vi sinh vật làm phân bón vi sinh vật khoảng 25oC đến 35oC. Hiện nay các nhà khoa học đang tiến hành tuyển chọn các vi sinh vật có khả năng sinh trưởng tốt trong dải nhiệt độ rộng nhằm khắc phục ảnh hưởng của nhiệt độ đối với hiệu quả của phân bón vi sinh vật.

5. Độ ẩm đất

Độ ẩm đất có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển và sinh tổng hợp hoạt chất sinh học của vi sinh vật tồn tại trong đất. Thiếu nước vi khuẩn không di chuyển được, đồng thời cũng không sinh sản được và qua đó ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp hoạt chất sinh học. Thiếu nước đồng thời cũng ngăn cản sự phát triển của cây trồng qua đó ảnh hưởng gián tiếp trở lại hoạt động của vi sinh vật và vai trò của chúng. Tuy nhiên, nhiều vi sinh vật sống cộng sinh hoặc nội sinh trong cây vẫn có khả năng hấp thụ nước thông qua hệ thống rễ cây và như vậy có thể sống và sinh tổng hợp hoạt chất sinh học trong điều kiện đất khô hạn nhưng cây trồng vẫn còn sống. Đa số phân bón vi sinh vật chứa các vi sinh vật sống hiếu khí nghĩa là cần ô xy để sinh trưởng phát triển, do vậy nước dư thừa sẽ có hại cho quá trình sinh trưởng, phát triển của chúng.

          6. Phèn, mặn

Trên vùng đất khô, phèn mặn có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sống của vi sinh vật. Nồng độ muối cao ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc màng tế bào của vi sinh vật và đồng thời tác động bất lợi đến quá trình trao đổi chất của vi sinh vật. Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, hiệu lực cố định nitơ của vi khuẩn nốt sần ở nồng độ muối ăn(0,4% NaCl) chỉ bằng 25% so với hiệu lực cố định nitơ của nốt sần trong điều kiện bình thường. Gần đây, người ta quan tâm nhiều đến việc tuyển chọn các vi sinh vật chịu được nồng độ muối cao và kết quả đã tạo được một số loại phân bón vi sinh vật có khả năng thích ứng với độ phèn mặn cao.

7. Vi khuẩn cạnh tranh

Trong đất, nhất là ở các vùng trồng chuyên canh (độc canh) tồn tại rất nhiều các vi sinh vật tự nhiên. Các vi khuẩn này sẽ cạnh tranh với vi sinh vật hữu hiệu và làm giảm hiệu quả hoạt động của chúng. Việc lựa chọn các vi sinh vật có khả năng cạnh tranh cao có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế ảnh hưởng của các chủng vi sinh vật tự nhiên khi sử dụng phân bón vi sinh vật. Bằng phương pháp amarge, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đã tuyển chọn được một số chủng vi khuẩn có khả năng cạnh tranh cao sử dụng cho sản xuất phân bón vi sinh vật.

V. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG PHÂN BÓN VI SINH VẬT

1. Chế phẩm vi sinh vật

a) Nhiễm hạt:

Các chế phẩm vi sinh vật (phân vi sinh vật trên nền chất mang khử trùng) sử dụng theo phương pháp nhiễm hạt đang lưu hành trên thị trường bao gồm:

- Phân vi khuẩn trên nền than bùn.

- Phân vi khuẩn trên nền hữu cơ hoai mục.

- Phân vi khuẩn dạng lỏng.

- Phân vi khuẩn dạng đặc sệt.

Để nhiễm vi khuẩn cho hạt có thể dùng một trong các cách dưới đây:

* Dịch sệt

Chế phẩm vi sinh vật được hòa với nước tạo thành một dung dịch sệt đồng nhất có thể đổ ra được. Có thể hòa thêm keo hay đường để tăng độ bám dính của vi khuẩn vào bề mặt hạt. Trộn đều lượng hạt cần gieo với dung dịch vừa pha sau đó đem gieo. Phương pháp này đơn giản dễ làm được nông dân miền Bắc rất ưa chuộng. Đối với các vùng trồng lạc ở phía Nam, phương pháp này không được ưa chuộng vì hạt bị ướt và gây phiền hà trong lúc gieo.

* Phương pháp bọc khô bằng chế phẩm

Trong phương pháp này, hạt giống được trộn trực tiếp với chế phẩm vi sinh vật mà không cần trộn thêm với nước hay chất lỏng khác. Phương pháp này dễ làm, được nông dân các vùng trồng lạc ở phía Nam rất ưa chuộng, song hiệu quả của phương pháp này không cao vì vi sinh vật không bám dính tốt trên bề mặt hạt, nhất là đối với loại phân bột có kích thước hạt không đồng đều và không mịn.

* Phương pháp bọc hạt bằng bột đá vôi

Theo phương pháp này, hạt giống trước tiên được nhiễm vi khuẩn trong dịch sệt, sau đó được trộn đều với bột đá vôi nghiền mịn, sao cho hạt được bọc kín bởi lớp đá vôi này trước khi gieo. Phương pháp này đặc biệt có lợi đối với vùng đất chua, hoặc khi hạt được gieo với phân bón có tính axit. Đối với các vùng đất phèn mặn hay đất chua nên áp dụng phương pháp nhiễm hạt này.

* Phương pháp bọc hạt bằng chế phẩm vi sinh vật

Dùng 1/3 lượng chế phẩm vi sinh vật cần bón, trộn với nước và chất bám đính tạo dung dịch sệt sau đó trộn đều với lượng hạt giống cần gieo. Trộn tiếp phần còn lại của chế phẩm vi sinh vật với hạt còn ướt sau đó đem gieo. Phương pháp này rất có hiệu quả trong điều kiện gieo hạt ở vùng đất khô, nóng hay chứa sẵn nhiều vi khuẩn không hữu hiệu.

b) Nhiễm vào đất

Phương pháp nhiễm vi khuẩn vào đất tương đối đơn giản và dễ làm được tiến hành theo một trong hai cách sau:

- Hòa đều chế phẩm vi sinh vật với lượng nước cần tưới và tưới vào hốc, rãnh trước khi gieo hạt.

- Trộn đều chế phẩm vi sinh vật với phân chuồng hoai mục hoặc đất bột sau đó đem bón vào hốc hoặc rãnh trước khi gieo hạt.

Phương pháp nhiễm vi khuẩn vào đất cũng có thể áp dụng trong trường hợp hạt giống đã được gieo và phát triển. Khi đó đùng chế phẩm vi sinh vật bón đều lên bề mặt đất ở vùng rễ cây trước khi mưa hay trước khi tưới nước hoặc hòa đều với nước, tưới trực tiếp vào vùng rễ cây. Phương pháp này mặc dù đơn giản để làm, song lại đòi hỏi nhiều công sức, cần phải phát triển thiết bị tưới dung dịch chứa vi sinh vật vào đất phù hợp với điều kiện của người nông dân.

2. Phân hữu cơ vi sinh vật

Phân hữu cơ vi sinh vật nhìn chung được dùng như một loại phân bón đất, nghĩa là bón trực tiếp vào đất tương tự như bón phân chuồng hoặc các loại phân hữu cơ khác. Tùy theo từng loại cây và cách thức gieo trồng có thể bón trực tiếp phân hữu cơ vi sinh vật vào đất và cày bừa đều cùng phân chuồng trước khi gieo hạt, trồng cây non hoặc bỏ phân vào các rãnh đã được đào trước xung quanh gốc cây, sau đó lấp kín lại bằng đất. Khi sử dụng phân hữu cơ vi sinh vật cùng các loại phân khoáng khác cần xem xét đến liều lượng sử dụng của phân khoáng vì hàm lượng cao các chất tan của phân khoáng có thể sẽ làm chết vi sinh vật ngay sau khi bón.

VI. YÊU CẦU CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI PHÂN BÓN VI SINH VẬT

Chất lượng phân bón vi sinh vật được thể hiện thông qua các chỉ tiêu:

- Số lượng vi sinh vật sống, có ích chứa trong một gam (g) hay milit (ml) phân.

- Hoạt tính sinh học của các vi sinh vật sử dụng.

- Thời gian tồn tại của vi sinh vật chứa trong phân bón.

- Số lượng hay tỷ lệ vi sinh vật tạp so với vi sinh vật sử dụng làm phân bón.

- Các chỉ tiêu khác liên quan đến tính chất vật lý, hóa học hay thành phần chất dinh dưỡng của phân bón.

các nước có truyền thống sử dụng phân bón vi sinh vật như Úc, Mỹ, Ấn Độ, mật độ vi khuẩn trong một gam hay 1 ml phân là 108- 109đối với chế phẩm vi sinh vật và 106- 107đối với phân hữu cơ vi sinh vật.

Việt Nam theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 6166-2002, TCVN 6167- 1996 về phân vi sinh vật cố định nitơ và chế phẩm vi sinh vật phân giải hợp chất photpho khó tan được coi là bảo đảm chất lượng khi mật độ vi khuẩn đã được tuyển chọn trong 1g hay ml chế phẩm (phân bón) đạt 108- 109và số lượng vi khuẩn tạp trong đó phải thấp hơn 1,0 triệu vi sinh vật/g hay ml chế phẩm (phân bón) trên nền chất mang vô trùng. Phân hữu cơ vi sinh vật yêu cầu phải có mật độ vi khuẩn sống đã được tuyển chọn thấp nhất là 106tế bào/g hay ml phân bón. Thời gian sử dụng đối với phân bón vi sinh vật được đặt ra ít nhất là 6 tháng kể từ ngày sản xuất. Trước đây người ta còn đưa ra chỉ tiêu về độ ẩm đối với phân bón vi sinh vật, song đến nay chỉ tiêu này không còn ý nghĩa vì có nhiều sản phẩm phân bón vi sinh vật được sản xuất theo phương pháp đông khô, hoặc được tạo ra từ sinh khối các bào tử vi sinh vật. Các sản phẩm dạng này có độ ẩm dưới 10%.

Tùy theo công nghệ sản xuất và tính năng của sản phẩm phân bón vi sinh vật mà các nhà sản xuất có thể đưa thêm các chỉ tiêu về hàm lượng các chất dinh dưỡng NPK, chất hữu cơ và các yếu tố khoáng trung và vi lượng khác có trong phân bón vi sinh vật.

VII. BẢO QUẢN PHÂN BÓN VI SINH VẬT

Bình thường phân bón vi sinh vật phải được bảo quản ở nhiệt độ mát (20oC). Các loại phân bón vi sinh vật rất dễ bị hỏng và mất hoạt tính sinh học khi để ở nhiệt độ 40oC hay cao hơn trong vài giờ. Phân bón vi sinh vật nói chung đều có thể ảnh hưởng bởi các điều kiện môi trường như độ ẩm, nồng độ các chất hóa học và nhiệt độ. Tuy nhiên với trình độ khoa học công nghệ ngày càng phát triển, nhiều loại phân bón vi sinh vật tiềm sinh có thể bảo quản trong điều kiện nhiệt độ bình thường trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 năm.

Vật liệu bao bì đóng gói phân vi khuẩn nốt sần cần thiết phải giữ được độ ẩm và thoáng khí. Các vật liệu không để O2và CO2đi qua không thích hợp làm bao bì cho phân bón loại này.

VIII. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÂN BÓN VI SINH VẬT

Để quản lý phân bón sinh học nói chung và phân bón vi sinh vật nói riêng, năm 2003 hàng loạt các văn bản quy định và hướng dẫn công tác quản lý được Nhà nước ban hành. Một số điểm quan trọng liên quan đến sản xuất kinh doanh và quản lý phân bón được tóm tắt dưới đây:

1. Khảo nghiệm phân bón

a) Các loại phân bón phải khảo nghiệm:

- Phân bón không có tên trong Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam (gọi tắt là Danh mục phân bón) thuộc các loại phân hữu cơ sinh học, phân khoáng đa lượng có bổ sung các yếu tố trung, vi lượng, phân hữu cơ khoáng, phân vi sinh, phân bón lá, phân trung lượng, vi lượng, phân có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng và các chế phẩm cải tạo đất.

- Các loại phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ khoáng, phân vi sinh, phân bón lá, phân trung lượng, vi lượng, phân có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng và các chế phẩm cải tạo đất đã có tên trong Danh mục phân bón nhưng thay đổi thành phần và hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng.

b) Các loại phân bón không phải khảo nghiệm:

- Các loại phân vô cơ như phân đơn, phân phức hợp, phân trộn có hàm lượng. dinh dưỡng N + P2O5+ K2O hữu hiệu > 18%.

- Các loại phân bón hữu cơ truyền thống như phân chuồng, phân gia cầm, phân trâu, bò ...

- Các loại phân bón của các đề tài khoa học đã được nghiệm thu cấp Bộ hoặc cấp Nhà nước chuyên ngành phân bón.

c) Thủ tục khảo nghiệm phân bón:

Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có phân bón khảo nghiệm phải đăng ký khảo nghiệm với Cục Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và PTNN.

- Hồ sơ xin đăng ký khảo nghiệm gồm:

+ Đơn đăng ký khảo nghiệm.

+ Tài liệu về đặc tính loại phân bón khảo nghiệm:

Tên hóa học và các tên thương mại;

Dạng phân bón (phân bón lá, bón rễ; dạng lỏng, viên, bột) và màu sắc;

Xuất xứ;

Nếu là phân nhập khẩu: Tên hãng hoặc tên công ty và nước sản xuất;

Nếu là phân sản xuất trong nước: Quy trình công nghệ và tác giả của công nghệ.

Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng, phương pháp phân tích:

Phân bón lá: Các yếu tố đa, trung, vi lượng, chất hữu cơ, chất mang . . . và chất điều hòa sinh trưởng (nếu có).

Phân hữu cơ sinh học và phân hữu cơ khoáng: Chất hữu cơ, các yếu tố đa, trung, vi lượng, độ ẩm, pH và kim loại nặng.

Phân vi sinh: Chủng loại và mật độ vi sinh vật có ích trên nền chất mang không thanh trùng.

Phân trung lượng, vi lượng: Thành phần và hàm lượng từng yếu tố có trong phân, chất mang...

Phân có chất điều hòa sinh trưởng: Ngoài thành phần, hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng của nền phân cơ bản, ghi thành phần, hàm lượng chất điều hòa sinh trưởng được phép sử dụng.

Các chế phẩm cải tạo đất: Thành phần và hàm lượng từng yếu tố có trong chế phẩm, đặc điểm cơ bản.

+ Tài liệu về độc tính của phân bón:

Những loại phân bón mà nguồn gốc có khả năng chứa yếu tố độc hại (phân chế biến từ rác thải thành phố, phụ phẩm công nghiệp chế biến...), phải có phiếu kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng: Pb, Hg, Co, as, Ni, Cr, Ti) và mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh: e. Coli, Sanmonella; ký sinh trùng đường ruột(trứng giun đũa - ascaris), do phòng phân tích chuyên ngành được công nhận tiến hành.

+ Nguồn gốc và thành phần nguyên liệu làm phân bón.

+ Hướng dẫn sử dụng.

+ Tài liệu khác:

Phân nhập khẩu: tài liệu đăng ký hoặc xác nhận chất lượng ở nước ngoài.

Phân sản xuất trong nước: Kết quả khảo nghiệm của cơ sở sản xuất.

d) Tiến hành khảo nghiệm:

Tổ chức, cá nhân có phân bón đăng ký khảo nghiệm hợp đồng với đơn vị khảo nghiệm, tiến hành khảo nghiệm theo Quy phạm TCN 216-2003 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Đơn vị khảo nghiệm phân bón phải đủ tiêu chuẩn khoa học công nghệ, có chức năng nghiên cứu về phân bón.

e) Đánh giá và công nhận phân bón mới:

- Sau khi kết thúc khảo nghiệm, đơn vị khảo nghiệm đăng ký với Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và PTNT) để tổ chức đánh giá kết quả khảo nghiệm và đề nghị công nhận phân bón mới.

Hồ sơ đề nghị đánh giá và công nhận phân bón mới gồm:

Đơn đăng ký đánh giá và công nhận phân bón mới;

- Báo cáo kết quả khảo nghiệm;

- Đề nghị của đơn vị khảo nghiệm và ý kiến của Cục Nông nghiệp.

Khi nhận được Hồ sơ hợp lệ đăng ký đánh giá và công nhận phân bón mới, Vụ Khoa học Công nghệ tổ chức Hội đồng để đánh giá kết quả khảo nghiệm. Đơn vị khảo nghiệm báo cáo trước Hội đồng kết quả khảo nghiệm. Nếu phân bón được Hội đồng đánh giá đạt yêu cầu Vụ Khoa học Công nghệ chuẩn bị thủ tục và trình Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là phân bón mới và đưa vào Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh.

2. Danh mục phân bón

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam; định kỳ rà soát lại Danh mục phân bón; bổ sung các loại phân bón đủ tiêu chuẩn vào Danh mục phân bón và đưa ra khỏi Danh mục phân bón những loại phân không còn tồn tại trên thị trường hoặc những loại phân gây tác hại đến sản xuất và môi trường. Các loại phân bón được xét để đưa vào Danh mục phân bón gồm:

- Các loại phân bón không phải khảo nghiệm đạt tiêu chuẩn theo quy định;

- Các loại phân bón qua khảo nghiệm đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là phân bón mới;

- Các loại phân bón là kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học được cấp Bộ, cấp Nhà nước công nhận là tiến bộ kỹ thuật.

- Các loại phân bón hữu cơ truyền thống không nằm trong diện đưa vào Danh mục phân bón.

3. Sản xuất phân bón

Tổ chức, cá nhân muốn sản xuất phân bón phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mặt hàng Phân bón.

- Doanh nghiệp sản xuất phân bón phải bảo đảm các điều kiện:

+ Có nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định.

+ Có máy móc thiết bị phù hợp để sản xuất phân bón đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.

+ Có bộ phận phân tích kiểm nghiệm chất lượng phân bón. Trong trường hợp doanh nghiệp không có bộ phận phân tích kiểm nghiệm chất lượng phân bón thì có thể thuê phòng phân tích được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận kiểm nghiệm.

+ Có hệ thống xử lý chất thải khi sản xuất để không gây ô nhiễm môi trường và bảo đảm các điều kiện về an toàn lao động theo quy định của pháp luật hiện hành.

+ Cán bộ, công nhân có chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu công nghệ sản xuất và quản lý chất lượng phân bón.

- Loại phân bón được phép sản xuất để kinh doanh bao gồm:

+ Phân bón được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là phân bón mới trong thời gian chờ đưa vào Danh mục phân bón;

+ Các loại phân bón là kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học đã được cấp Bộ hoặc cấp Nhà nước công nhận là tiến bộ kỹ thuật trong thời gian chờ đưa vào Danh mục phân bón.

+ Đối với loại phân bón không được phép sản xuất để kinh doanh, doanh nghiệp muốn sản xuất thử để khảo nghiệm phải có ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

4. Gia công phân bón

- Doanh nghiệp gia công phân bón phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

+ Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mặt hàng phân bón;

+ Có bộ phận phân tích kiểm nghiệm chất lượng phân bón. Trong trường hợp doanh nghiệp không có bộ phận phân tích kiểm nghiệm chất lượng phân bón có thể thuê phòng phân lích được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận.

- Gia công các loại phân bón không được phép sản xuất kinh doanh ở Việt Nam, phải có ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

5. Kinh doanh phân bón

- Các loại phân bón được phép kinh doanh gồm:

+ Phân bón có tên trong Danh mục phân bón;

+ Phân bón được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là phân bón mới trong thời gian chờ đưa vào danh mục phân bón;

+ Các loại phân bón là kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học đã được cấp Bộ công nhận là tiến bộ kỹ thuật trong thời gian chờ đưa vào danh mục phân bón.

Tổ chức cá nhân buôn bán, cung ứng, dịch vụ phân bón phải có đủ các điều kiện sau đây:

+ Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mặt hàng phân bón.

+ Địa điểm buôn bán, cung ứng, dịch vụ phân bón không gây ô nhiễm môi trường.

+ Có kho chứa phân bón;

- Phân bón khi vận chuyển phải có bao bì, hoặc dụng cụ chứa đựng chắc chắn để bảo đảm chất lượng và không gây ô nhiễm môi trường.

- Phân bón khi kinh doanh phải công bố tiêu chuẩn chất lượng và công bố phân bón phù hợp tiêu chuẩn theo các quy định hiện hành.

- Phân bón khi kinh doanh phải có nhãn hàng hóa phù hợp theo Quy chế ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất nhập khẩu của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn của các Bộ liên quan.

- Các loại phân giả, phân quá hạn sử dụng đều bị đình chỉ sản xuất, đình chỉ tiêu thụ; không có nhãn hàng hóa và nhãn hiệu không đúng với đăng ký thì không được phép kinh doanh.

6. Xuất nhập khẩu phân bón

Mọi tổ chức, cá nhân được phép nhập khẩu các loại phân bón có tên trong Danh mục phân bón do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.

- Phân bón không có tên trong Danh mục phân bón, khi nhập khẩu để khảo nghiệm cần có sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

- Hồ sơ xin nhập khẩu phân bón để khảo nghiệm gồm:

+ Đơn xin nhập khẩu phân bón;

+ Tài liệu về các đặc tính loại phân bón nhập khẩu bao gồm:

* Tên hóa học và các tên thương mại;

* Dạng phân bón (phân bón lá, bón rễ);

* Xuất xứ: Tên hãng hoặc tên công ty và nước sản xuất;

* Đặc điểm: dạng (lỏng, viên, bột), mầu sắc;

* Thành phần và hàm lượng dinh dưỡng, phương pháp phân tích;

* Tài liệu về độc tính của phân bón: Những loại phân bón mà nguồn gốc có khả năng chứa yếu tố độc hại (phân chế biến từ rác thải thành phố, phụ phẩm công nghiệp chế biến...), phải có phiếu kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng (Pb, Hg, CO, As, Ni, Cr, Ti) và mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh: E. Coli, sanmonella; ký sinh trùng đường ruột (trứng giun đũa - ascaris), do phòng phân tích chuyên ngành được công nhận tiến hành;

* Nhãn mác loại phân bón xin nhập, các thông tin và thông báo về sản phẩm.

Doanh nghiệp có chức năng kinh doanh phân bón được xuất khẩu phân bón theo yêu cầu của khách hàng.

- Việc tạm nhập tái xuất và quá cảnh phân bón được thực hiện theo các quy định hiện hành của Nhà nước về tạm nhập tái xuất và quá cảnh hàng hóa.

IX. SẢN XUẤT PHÂN BÓN VI SINH VẬT Ở VIỆT NAM

Phân bón vi sinh vật được sản xuất ở tất cả mọi vùng sinh thái trong cả nước (trung du miền núi phía Bắc, Hà Nội và Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đóng Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long) với quy mô và chủng loại khác nhau. Theo điều tra của Viện KHKTNN Việt Nam và Viện Thổ nhưỡng Nông hóa(2001), nhóm các đơn vị sản xuất phân bón vi sinh vật bao gồm:

1. Các công ty mía đường

Hiện nay trong cả nước có khoảng 40 nhà máy đường đang hoạt động, hầu hết các nhà máy đường đều có xưởng sản xuất phân bón với công suất thiết kế từ 5.000 tấn/năm trở lên (bảng 2).

Tuỳ theo các công nghệ áp dụng khác nhau mà sản phẩm tạo ra của các nhà máy đường là phân hữu cơ sinh học hay phân hữu cơ vi sinh. Đến hết năm 2001, trong số 34 xưởng sản xuất của các công ty mía đường có 20 xưởng sử dụng công nghệ của FiToHooCMoN, HuDaViL và Đại học Quốc gia Hà Nội sản xuất là phân hữu cơ (Bảng 3).

Các xưởng khác sản xuất chủ yếu là phân hữu cơ sinh học. Số lượng phân bón được sản xuất tại các nhà máy đường đạt 70.000 tấn/năm, bằng 30% công suất thiết kế. Lượng phân bón do các nhà máy đường sản xuất được cung cấp tại chỗ cho vùng nguyên liệu mía.

2. Các doanh nghiệp sản xuất khác

Ngoài các công ty mía đường sản xuất phân hữu cơ vi sinh vật nêu trên còn có một số cơ sở, đơn vị khác cũng tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu thụ phân vi sinh vật, số liệu thống kê chưa đầy đủ được tập hợp trong bảng 4 cho thấy số lượng cơ sở sản xuất phân bón vi sinh vật còn rất ít với công suất từ vài trăm đến vài ngàn tấn/năm. Công nghệ sản xuất sử dụng trong các cơ sở hầu hết đều đơn giản, ít được cơ giới hóa. Không có đơn vị nào sản xuất phân bón vi sinh vật trên nền chất mang khử trùng. Nhiều địa phương tổ chức sản xuất phân hữu cơ vi sinh phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông, lâm nghiệp của địa phương mình (Sơn La, Hà Giang, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình, Thanh hóa, Nghệ an, Gia Lai, Lâm Đồng, Đắc Lắc...), trong đó nhiều sản phẩm phân bón vi sinh vật sản xuất tại địa phương không nằm trong Danh mục phân bón được phép sử dụng tại Việt Nam. Chất lượng phân bón dạng này nhìn chung thấp và không ổn định.

Bảng 2. Cơ sở sản xuất phân hữu cơ vi sinh trong lĩnh vực mía đường

Tên nhà máy đường

Công suất thiết kế

Lượng nguyên liệu

Việt Trì, Sông Lam, Tuyên Quang, Quảng Bình, Phan Rang, Bình Thuận, Eaknốp, Trị An, Nước Trong TN, Kiên Gian, Sóc Trăng

< 5.000

< 4.000

Sông Con, Nghệ An Tate & L, Sơn Dương, Hòa Bình, Cao Bằng, Bình Định, Diên Khánh, Đaklak, Bourbon Gia Lai, Phụng Hiệp, Vị Thanh

5.000 - 7.000

6.000 - 8.000

Nông Cống, Quảng Ngãi, Tuy Hòa, La Ngà, Bình Dương, Đường thô TN, Hiệp Hòa, Cà Mau

10.000

12. - 16.000

Lam Sơn

> 15.000

> 20.000

Bảng 3. Công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh áp dụng tại các nhà máy đường

Tên công nghệ

Đơn vị chuyển giao

Số đơn vị sử dụng (2001)

Fitohoocmon

Cty TNHH Fitohoocmon

11

Hudavil

Liên hiệp KH-SX công nghệ HH

8

Komix

Cty TNHH Thiên Sinh

9

Viện CNSH

TT. KHTN & CNQG

2

ĐHQG Hà Nội

ĐHQG Hà Nội

1

ĐHKT Hồ Chí Minh

ĐHKT Hồ Chí Minh

1

Alfa Laval

Ấn Độ

1

Biffa

Nước ngoài

1

Bảng 4. Tình hình sản xuất phân bón vi sinh vật ở các doanh nghiệp

STT

Tên sản phẩm phân bón và cơ sở sản xuất

Sản lượng năm 2001 (tấn)

1

Phức hợp HCVS

Công ty Fitohoocmon và 15 cơ sở liên doanh

100.000

2

Hữu cơ vi sinh Hudavil

Liên hiệp KHSXHH và 7 cơ sở liên doanh

35.000

3

Lân hữu cơ vi sinh Komix; Komix BL2; Komix vi sinh, vi lượng

Công ty Thiên Sinh và 9 cơ sở liên doanh liên kết

20.000

4

Phân vi sinh Humix

Công ty TNHH Hữu cơ

10.000

5

Hữu cơ vi sinh

Công ty Hóa chất Quản Bình

6

Hữu cơ vi sinh

Công ty Hoàng Thành, Daklak

7

Hữu cơ vi sinh Omix

Cơ sở sản xuất phân bón hữu cơ Long Khánh

HN2000

Viện Hóa các hợp chất thiên nhiên, Trung tâm KHTN & CNQG

Vi sinh tổng hợp Biomic C

Công ty Cổ phần Phân bón Hóa sinh Củ Chi

Bảng 5. Phân bón vi sinh vật sản xuất ở các cơ sở nghiên cứu triển khai

STT

Tên sản phẩm

Tên cơ sở sản xuất

Xuất xứ sản phẩm

1

- Phân VSV cố định đạm cho cây bộ đậu, lúa, ngô và cây trồng cạn khác.

- Phân VSV phân giải photphat khó tan.

Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam

KQ đề tài KH cấp Nhà nước 52D.01.03; KC.08.01; KHCN.02.06

2

- Phân VSV cố định đạm cho cây họ đậu

Trường ĐH Nông nghiệp I

3

- Phân VSV cố định đạm cho cây bộ đậu, lúa, ngô và cây trồng cạn khác.

- Phân VSV phân giải photphat khó tan.

Viện CNSH

4

- Phân VSV cố định đạm cho cây bộ đậu, lúa, ngô và cây trồng cạn khác.

- Phân VSV phân giải photphat khó tan.

Trường ĐH KHTN - ĐH QG Hà Nội

5

Phân VSV sử dụng cho cây lâm nghiệp.

Viện Khoa học Lâm Nghiệp

6

Phân VSV cho lúa.

Trường ĐH KHTN - ĐH QG Hà Nội

Dự án ACIAR

7

Phân VSV cố định đạm cho cây bộ đậu.

ĐH Cần Thơ

Dự án VN - Hà Lan

8

Chế phẩm EM.

TT. Việt Nhật - ĐH Nông nghiệp I

Đề tài độ lập cấp Nhà nước

9

Phân VSV chức năng sử dụng cho cây trồng, cây công nghiệp và lâm nghiệp.

Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, Viện CNSH, Viện Khoa học Nông nghiệp

Kết quả đề tài KH cấp Nhà nước KC.04.04

3. Các cơ sở nghiên cứu triển khai

Phân bón vi sinh vật không chỉ được sản xuất tại các doanh nghiệp mà còn được sản xuất bởi các cơ quan nghiên cứu triển khai. Danh sách các đơn vị nghiên cứu triển khai có sản xuất phân bón vi sinh vật được tập hợp trong bảng 5.

X. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHÂN BÓN VI SINH TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Trong những năm qua, phân bón vi sinh vật đã thể hiện vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên do hệ vi sinh vật rất đa dạng và mỗi vi sinh vật trong đất đều chịu nhiều tác động qua lại của các vi sinh vật khác cũng như điều kiện môi trường nên hiệu quả của các sản phẩm vi sinh trong các điều kiện khác nhau không giống nhau. Tại nhiều quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc; Đức; Nhật, Mỹ, Anh, Úc... người ta ngày càng chú ý nhiều đến các sản phẩm phân vi sinh vật hỗn hợp bao gồm tập hợp các nhóm vi sinh vật cố định nitơ, phân giải. lân, kích thích sinh trưởng thực vật, đối kháng vi sinh vật gây bệnh vùng rễ cây trồng do tác dụng tổng hợp của nó đối với đất, cây trồng và môi trường sinh thái. Các sản phẩm phân bón vi sinh vật chuyên tính như cố định nitơ hay phân giải lân đang dần dần được thay bằng sản phẩm vi sinh vật hỗn hợp. Thực tế sử dụng ở nhiều nơi cho thấy, phân vi sinh vật đa chủng trên nền hữu cơ đang là nhân tố quan trọng trong sản xuất nông phẩm hữu cơ. Việt Nam là đất nước nông nghiệp có nhiều lợi thế về điều kiện khí hậu, đất đai, sự đa dạng sinh học cũng như nhân lực sản xuất. Nông nghiệp Việt Nam đã có nhiều phát triền vượt bậc, song lợi nhuận do sản xuất nông nghiệp mang lại vẫn còn rất thấp. Để phù hợp với cơ chế thị trường nông sản Việt Nam cần nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế. Nông sản hữu cơ đang là sản phẩm được người tiêu dùng ở các nước công nghiệp ưa chuộng và có tiềm năng mở rộng thị trường ngày càng lớn. Quản lý dinh dưỡng tổng hợp cây trồng kết hợp với quản lý dịch hại tổng hợp là điều kiện tiên quyết cho sản xuất bền vững các nông sản an toàn. Kết hợp các tiến bộ kỹ thuật về phân bón vi sinh vật, phân bón sinh học và kiểm soát sinh học dịch hại cây trồng, tạo ra giải pháp tổng hợp chăm bón cây và đất trồng là xu hướng phát triển chính của nền nông nghiệp hữu cơ bền vững, trong đó phân vi sinh vật là yếu tố cơ sở quan trọng.

Sản phẩm phân bón vi sinh vật trong tương lai không xa sẽ được tạo ra từ tổ hợp các vi sinh vật nhiều hoạt tính. Khi đó vi sinh vật trong phân bón vừa có nhiệm vụ cung cấp, chuyển hóa chất dinh dưỡng, tạo điều kiện cho cây trồng sử dụng dinh dưỡng hiệu quả hơn, vừa có tác dụng nâng cao độ phì của đất trồng, giảm thiểu các tác động sinh học và không sinh học bất lợi đối với cây và đất trồng.


PHỤ LỤC
DANH MỤC PHÂN BÓN VI SINH VẬT

Số 219/1998/QĐ-BNN/KHCN

123 Phân VSV CĐ N cây họ đậu Rhizobium  >5x106 Viện KH KT NN VN
124 Phân VSV CĐ N cho lúa (Azotobacter, Azospirillum, Flavo bacter, Bacillus) > 5x 106 Viện KH KT NN VN

Số  12/2000/QĐ- BNN-KHCN  

360

Hỗn hợp các VSV hữu ích

Nhóm VSV cố định đạm, phân giải lân, phân giải xelluloza ( 3.106con/g)

361

Chế phẩm TNS cây trồng Fitohoocmon (hỗn hợp Vlg cho các cây trồng )

CuSO4 H20: 10-1 ; ZnSO4 H20 >13; MnSO4H20>8 ; H3PO4>10 ; (NH4)6Mo7O24>7 (NAA ( NOA

XN LD FITOHOOCMON

362

Phân phức hợp hữu cơ vi sinh FITOHOOCMON

NPK 3.2.2  Vlg tổng số 0,2 Gib     Humic >0.5 HC(10

VSV: 3.106 con/g (Thay cho số 696 trong Danh mục theo QĐ 123 1998)

SỐ 40/2004/QĐ-BNN

III- Phân vi sinh:

STT

TÊN THƯƠNG MẠI

ĐƠN VỊ TÍNH

THÀNH PHẦN VÀ HÀM LƯỢNG                                                                      CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHÍNH

NGUỒN GỐC                 PHÂN BÓN

1

Hữu cơ vi sinh

%  

CFU/g

P2O5(hh): 2,8                       Mùn: 10                 Axit Humic: 2       

VSV(N,P): 1.107 mỗi chủng 

Công ty Hoá chất       Quảng Bình

2

Hữu cơ vi sinh

%

CFU/g

HC:13                           N-P2O5(hh)-K2O:1-1,5-0,5    

VSV(N,P):1.106 mỗi chủng

Công ty Hoàng Thành, Đắk Lắk

3

Komix vi sinh vi lượng

%

ppm

CFU/g

HC: 15            N-P2O5(hh)-K2O: 1-3-1       (Ca, Mg): 4   

Zn: 4.100          Cu: 2000          B: 1000          Mn: 1900                    

VSV(P)≥1.106

Công ty TNHH          Sản xuất và Thương mại                   Thiên Sinh

4

Komix BL2

%

ppm

CFU/g

HC: 20          N-P2O5(hh)-K2O: 1-3-1          Mg: 1    

(Zn, Mn): 300                                                                              

VSV(P)≥1.106

5

Lân hữu cơ vi sinh KOMIX

%

ppm

CFU/g

HC:15                      N-P2O5(hh)-K2O:1-4-1                  (Ca, Mg): 3                                                  

Mn:300          Cu:50            Zn:200            B:50           

VSV(P)≥1.106

6

VSV CĐ N cây họ đậu

CFU/g

Rhizobium >5.106

Viện KHKT                       Nông nghiệp Việt Nam

7

VSV CĐ N cho lúa

CFU/g

(Azotobacter,   Azospirillum,   Flavobacter,   Bacillus) >5.106

8

Vi sinh HUĐAVIL           

%     

CFU/g

HC: 13        N-P2O5(hh)-K2O: 6       (Cu, Zn, B, Cl, Mn, Mo, Co)≥1        

VSV(N,P,X): 1.106 ~1.107mỗi chủng

Liên hiệp                      KHSXCN Hoá học - Viện hoá học các HCTN

IV- Phân Hữu cơ vi sinh

STT

TÊN THƯƠNG MẠI

ĐƠN VỊ TÍNH

THÀNH PHẦN VÀ HÀM LƯỢNG                                                                   CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHÍNH

NGUỒN GỐC                 PHÂN BÓN

1

Vi sinh tổng hợp Biomic –C

%  

CFU/g

HC:28            N-P2O5(hh)-K2O:3-1,5-1,5                axit Humic: 2  

Vi khuẩn Azotobacter: 1.106

Công ty CP PB                  Hoá sinh Củ Chi

2

 Omix

CFU/g

HC: 37,5       N-P2O5(hh)-K2O: 0,6-2,4-0,13         axit Humic: 6,3              

VSV(p): 1,8.108

Cơ sở sản xuất phân bón hữu cơ Long Khánh

3

HN 2000

%    

ppm   

CFU/g

HC:23        axit Humic:5     N-P2O5(hh)-K2O: 3-1-1                    CaO:1,5            MgO:1,2             Zn:0,05                                             

Mo:1                  Cu:70                 B:12,5                    Mn: 26,1

VSV(x): 106~108             VSV(p): 106~108

Liên hiệp                      KHSXCN hoá học -                                                    Viện hoá học các HCTN- TT KHTN&CNQG

4

HUĐAVIL

CFU/g

HC: 23                 N-P2O5(hh)-K2O:3                                          

VSV(NPX): 3.106~107 mỗi chủng 

Liên hiệp                             KHSXCN Hoá học - Viện hoá học các HCTN

77/2005/QĐ-BNN

IV- Phân hữu cơ vi sinh

STT

TÊN PHÂN BÓN

(HOẶC TÊN THƯƠNG MẠI)

ĐƠN VỊ TÍNH

THÀNH PHẦN VÀ HÀM LƯỢNG

CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHÍNH (%, ppm, hoặc cfu/g (ml)

TỔ CHỨC XIN ĐĂNG KÝ

1

Phân bón phức hợp hữu cơ vi sinh FITOHOCMON

%

CFU/g

HC: 15          N-P2O5 (hh) -K2O: 3-2-2                Axit humic: 0,5  

Cu: 0,006           Zn: 0,006         Mn: 0,0038         B: 0,001           Mo: 0,0002          Fe: 0,003   

VSV(N,P,X): 1.106 mỗi loại

Công ty cổ phần  FITOHOOCMON

2

Phân bón phức hợp hữu cơ vi sinh FITOHOCMON

Bón lót

%

CFU/g

HC: 15           N-P2O5 (hh) -K2O: 1-2-1               Axit humic: 0,5  

Cu: 0,006           Zn: 0,006         Mn: 0,0038         B: 0,001           Mo: 0,0002          Fe: 0,003   

VSV(N,P,X): 1.106 mỗi loại

3

Phân bón phức hợp hữu cơ vi sinh FITOHOCMON

Bón thúc

%

CFU/g

HC: 15    N-P2O5 (hh) -K2O: 5-1-5                      Axit humic: 0,5  

Cu: 0,006           Zn: 0,006         Mn: 0,0038         B: 0,001           Mo: 0,0002          Fe: 0,003   

VSV(N,P,X): 1.106 mỗi loại

4

Phân hữu cơ vi sinh LU.COZYM

%

CFU/g

HC: 30        N-P2O5(hh)-K2O: 1,8-1,2-1,2       S: 0,5        Ca: 2,5

Zn: 0,003             Mg: 1,2               B: 0,2            Mo: 0,002

VSV(p) : 1,2x107              VSV(x): 9x106               VSV(N):  9,2x106

Công ty TNHH TM & SX           Lương Nông

5

Phân hữu cơ vi sinh SO.ZYM

%

CFU/g

HC: 23     N-P2O5(hh)-K2O: 1,6-1-1          S: 0,5           Ca: 2,5    Mg: 1               Zn: 0,003              Mo: 0,001

VSV(p) : 1,2x107              VSV(x): 9x106               VSV(N):  9,2x106

6

Phân hữu cơ vi sinh

Domix-BL

%

CFU/g

HC: 25             N-P205hh: 1-5            

VSV(N): 1x106             VSV(p): 1x106               VSV(X): 1x106

Công ty TNHH Miền Đông

7

Phân hữu cơ vi sinh BIOCO

%

CFU/g

HC: 25                  N-P2O5hh-K2O: 1,24-1,35-0,67

VSV(N): 2,6x107               VSV(p): 1,8x107                  VSV(x): 1,3x107               

Công ty TNHH

Phú Sơn

8

Phân lân vi sinh BIOCO

%

CFU/g

HC: 25                  N-P2O5hh-K2O: 0,92-4,46-0,54

VSV(N): 1,2x107                   VSV(p): 6,4x106               VSV(x): 9,6x106

9

Phân Hữu cơ vi sinh Tanimix® - BL

%

CFU/g

HC: 23                   Ca : 2             Mg : 1             Axit humic: 4

VSV(p): 1x106 VSV(x): 1x106                                            VSV(N): 1x106

Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Tây Ninh

10

Phân hữu cơ vi sinh Cao Nguyên

(Phì lực cao)

%

CFU/g

HC: 23,4  

VSV(p): 8.106                  VSV(x): 7,8.107              VSV(N): 2,36.107

Công ty Cổ phần     thương mại XNK Thăng Long

11

Phân hữu cơ vi sinh TBio

%

CFU/g

HC: 20                             Axit humic: 5

VSV(N): 1x106                          VSV(x): 1.106

Công ty TNHH

công nghệ

sinh học TBio

12

Phân hữu cơ vi sinh

COVA-ROFOR

%

ppm

CFU/g

HC: 23      N-P2O5(hh)-K2O: 1-2-1

Fe: 250                 Cu: 150             B: 50             Zn: 50

VSV(N): 5,5x106     VSV(p): 2,5x106       VSV(x): 5,5x105

Cơ sở sản xuất phân hữu cơ COVAC

13

Phân hữu cơ  vi sinh Trichomix- DT

%

CFU/g

HC: 23      N-P2O5(hh)-K2O: 2-2-1             CaO: 1          MgO: 0,5

VSV(P): 1x106          VSV(X): 1x106

Cơ sở phân bón Điền Trang

14

Phân hữu cơ vi sinh

ĐẠI NÔNG 1

%

CFU/g

HC: 25           N-P2O5(hh)-K2O: 1-1-0,8          Axit humic: 1

VSV(p): 3,6x107 VSV(x): 8,4x106 VSV(N): 5,2x106

DNTN Thanh Xuân

15

Phân hữu cơ vi sinh vật hỗn hợp cố định nitơ, phân giải lân

%

CFU/g

HC: 15                 N-P2O5hh-K2O: 1-1-1

VSV(N) gồm 1 trong 3 giống: (Rhizobium/Azotobacter/Aospirillum): 106

VSV(p)(Bacillus): 106

Viện KHKTNN Việt Nam

16

Phân hữu cơ vi sinh vật chức năng

%

CFU/g

HC: 15               N-P2O5hh-K2O: 1-1-1

VSV(N) gồm 1 trong 3 giống:  (Rhizobium/Azotobacter/Pseudomonas): 106

VSV(p) gồm 1 trong 2 giống: (Bacillus/Pseudomonas): 106

Vi sinh vật đối kháng gồm 1 trong 2 giống: (Bacillus/Pseudomonas): 106

V- Phân vi sinh

STT

TÊN PHÂN BÓN

 (HOẶC TÊN THƯƠNG MẠI)

ĐƠN VỊ TÍNH

THÀNH PHẦN VÀ HÀM LƯỢNG

CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHÍNH (%, ppm, hoặc cfu/g (ml)

TỔ CHỨC XIN ĐĂNG KÝ

1

Chế phẩm EVL

(Tên khác: EVL Coating supplement)

CFU/g

%

Bacillus licheniformis: 1x106                        Bacillus subtilis: 1x106  Lactobacillus acidophilus: 1x106     Pseudomonas putida: 1x106

Saccharomyces cerevisiae: 1x106

Hyđrocacbon: 7                                  Khoáng chất: 4

Protein và peptit: 3,5

EVL inc. (Canada)

2

Hỗn hợp các vi sinh vật hữu ích

CFU/g

VSV(N,P,X):  1.106 mỗi loại

Công ty CP

phân bón FITOHOOCMON

3

COMPOST ACTIVATOR

(Tên khác: Compro; Compost plus)

CFU/g

Nhóm VSV:

- (Bacillus licheniformis, Bacillus subitilis,

Pseudomonas aeruginosa,  Pseudomonas putida,

  Pseudomonas flourescans E, Escherichia hermani): 1,8 x 107

- Bacillus thuringiensis: 5 x 107

Công ty TNHH

Đạt Nông

4

FARM BIO ENZYME DIGEST

(Tên khác: Bio digest; Naccosan)

CFU/g

Nhóm VSV:

- Bacillus licheniformis: 1,2 x107

- (Bacillus subitilis, Pseudomonas aeruginosa,

Pseudomonas putida, Pseudomonas flourescans E, Bacillus thuringiensis): 5x107

5

BioGro

CFU/g

mg/100g

VSV(N): 106                  VSV(p): 106                     VSV(x): 106

HC: 15                            K2O: 1,5

N-P2O5hh: 8 -9

Công ty TNHH Sản phẩm hữu cơ Hà Nội

6

Vi sinh HUMIX

%

ppm

CFU/g

HC:23       N-P2O5hh-K2O: 1-2-1      CaO: 1       MgO: 0,5     S: 0,5   

Fe: 500          Cu: 100            Zn: 100           Mn: 100           B: 100

VSV(p) (Bacillus): 5.106

VSV(N) (Azotobacter, Azospirillium): 5.106

Công ty TNHH Hữu cơ

7

Komix BL2, BiKomix BL2

%

ppm

CFU/g

HC: 20                N-P2O5hh-K2O-Mg: 1-3-1-1

Zn: 100                Mn: 200

VSV(p): 1.106

Công ty TNHH Thiên Phúc, Công ty CP Thiên Hà

8

Phân lân hữu cơ vi sinh KOMIX, BiKomix

%

ppm

CFU/g

HC:15      N-P2O5hh-K2O:1-4-1        Ca: 1,5         Mg: 1,5                              Mn: 300             Cu: 50              Zn: 200              B: 50                                                   VSV(p): 1.106

9

Komix vi sinh vi lượng, BiKomix vi sinh vi lượng

%     ppm

CFU/g

HC: 15         N-P2O5hh-K2O: 1-3-1           Ca: 3           Mg: 1                      Zn: 4.100           Cu: 2000            B: 1000                Mn: 1900                         VSV(p): 1.106

10

Chế phẩm hỗn hợp vi sinh vật cố định nitơ, phân giải lân

CFU/g/ml

VSV(N) gồm 1 trong 3 giống: (Rhizobium/Azotobacter/Azospirillum): 108-109

VSV(P) (Bacillus): 108-109

Viện KHKTNN Việt Nam

11

Chế phẩm vi sinh vật chức năng

CFU/g/ml

VSV(N) gồm 1 trong 3 giống: (Rhizobium/Azotobacter/Pseudomonas): 108 - 109

VSV(P) gồm 1 trong 2 giống:

(Bacillus/Pseudomonas): 108 – 109

VSV đối kháng gồm 1 trong 2 giống:

(Bacillus/Pseudomonas): 108 – 109

12

Phân vi sinh Azotobacterin

CFU/g

VSV (N) Azotobacte Vinelandi: 5,9x108

Vi khuẩn đối kháng Bacillus subtillis: 6,3x108

Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch

55/2006/QĐ-BNN

III. Phân Vi sinh

TT

TÊN PHÂN BÓN (TÊN THƯƠNG MẠI)

ĐƠN VỊ

THÀNH PHẦN, HÀM LƯỢNG

NGUỒN GỐC

CÁC VI SINH VẬT CÓ ÍCH VÀ YẾU TỐ KHÁC

1

Chế phẩm vi sinh TM 21

CFU/g

Bacillus Megaterium: 1,2x107                                Bacillus Subtilis: 3x105

Công ty TNHH TM DV Đại Vọng                               Việt Nam

2

Tricho-MX

CFU/g

Trichoderma sp: 1x109  Streptomyces sp: 1x107  Bacillus sp: 1x 108

Công ty TNHH            sản xuất và thương mại  Mai Xuân

%

Độ ẩm: 30

3

Vi.EM - MX

CFU/g

Bacillus sp: 1x109                                       Rhotopseudomonas: 1x106                                  Lactobacillus sp: 1x107                            Sacchromyces sp: 1x106

4

EM - MX

CFU/g

Bacillus sp: 1x109                                          Rhotopseudomonas: 1x106                  Lactobacillus sp: 1x107                            Sacchromyces sp: 1x106

5

Power Ant I

CFU/ml

(Bacillus, Clostridium, Streptomyces, Achoromobacter, Aerobacter, Nitrobacter, Nitrosomonas Pseudomonas, Aspergillus, Fusarium Polyporus, Rhizopus): 1x109

Công ty TNHH SA CAI

6

SP No1

CFU/ml

(Bacillus, Clostridium, Streptomyces, Achoromobacter, Aerobacter, Nitrobacter, Nitrosomonas Pseudomonas, Aspergillus, Fusarium Polyporus, Rhizopus): 1x109

Công ty TNHH TM & DL Thanh Lan

V. Phân hữu cơ vi sinh

TT

TÊN PHÂN BÓN (TÊN THƯƠNG MẠI)

ĐƠN VỊ

THÀNH PHẦN, HÀM LƯỢNG

NGUỒN GỐC

CÁC YẾU TỐ DINH DƯỠNG CHÍNH VÀ VI SINH VẬT CÓ ÍCH

1

Trichomix - DT

%

HC: 23      N-P2O5(hh)-K2O: 2-2-1      CaO: 1       Mg: 0,5           

Cơ sở phân bón                           Điền Trang

CFU/g

VSV(N,X): 1x106 mỗi lọai

2

Omix (có bổ sung lân)

%

HC: 15                Axit Humic: 3              P2O5(hh): 3            

Cơ sở Phân bón HC Long Khánh

CFU/g

VSV(P): 1,8x106

3

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon I

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 3-1-8  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006   Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003  

Công ty CP Phân bón Fitohoocmon

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi lọai

4

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon II

%

HC: 15         N-P2O5(hh)-K2O: 6-4-8          Axit Humic: 0,5        Cu: 0,006 Zn: 0,006       Mn: 0,0038        B: 0,001         Mo: 0,0002          Fe: 0,003

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi loại

5

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon III

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 5-3-5  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003 

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi lọai

6

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon IV

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 4-2-3  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002   Fe: 0,003

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi lọai

7

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon V

%

HC: 15  P2O5(hh): 3  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003  

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi lọai

8

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon VI

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 3-3-3  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi lọai

9

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon VII

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 3-3-8  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003 

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi lọai

10

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon VIII

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 5-2-5  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002   Fe: 0,003

Công ty CP Phân bón Fitohoocmon

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi lọai

11

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon IX

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 2-2-0  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003 

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi loại

12

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon X

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 1-3-1  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi lọai

13

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon XI

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 1-4-1  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003  

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi loại

14

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon XII

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 4-4-1  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003 

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi loại

15

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon XIII

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 4-2-1  Axit Humic: 0,5  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi loại

16

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon I- Lam Sơn

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 5-3-5  Axit Humic: 0,2  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002  Fe: 0,003    

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi loại

17

Phân bón phức hợp HCVS Fitohoocmon II- Lam Sơn

%

HC: 15  N-P2O5(hh)-K2O: 4-2-2  Axit Humic: 0,2  Cu: 0,006  Zn: 0,006  Mn: 0,0038  B: 0,001  Mo: 0,0002   Fe: 0,003 

CFU/g

VSV(N,P,X): 1x106 mỗi loại

18

MTX

%

HC: 15

Công ty CP CN môi trường xanh Seraphin

CFU/g

VSV(N): 5,5x107

19

TBio

%

HC: 20                                Axit Humic: 5       

Công ty TNHH CN SH TBio

CFU/g

VSV(N,X): 1x106

10/2007/QĐ-BNN

IV. Phân hữu cơ vi sinh

STT

TÊN PHÂN BÓN

 (HOẶC TÊN THƯƠNG MẠI)

ĐƠN VỊ TÍNH

THÀNH PHẦN VÀ HÀM LƯỢNG

CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHÍNH (%, ppm, hoặc cfu/g (ml)

TỔ CHỨC XIN ĐĂNG KÝ

17

Phân hữu cơ vi sinh Số 9

%

HC: 23            Axit Humic: 5           α NAA: 0,05                             N-P2O5(hh)-K2O: 1-1-1

Công ty YOGEN MITSUI VINA

cfu/g

VSV(N): 1x106        VSV(P): 1x106          VSV(X): 1x106

ppm

Fe: 100    Cu: 500     Zn: 500     Mn: 500     Mo: 5    B: 200

18

Tanimix®-BL2 (1-4-1)

%

HC: 23        N-P2O5(hh)-K2O: 1-4-1    Ca: 2         Mg: 1            Axit Humic: 4

Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Tây Ninh

cfu/g

VSV(N): 1x106              VSV(P): 1x106           VSV(X): 1x106

19

SUN

%

HC: 15          N-P2O5(hh)-K2O: 3-1-1

Công ty TNHH Phát triển Công nghệ Thảo Điền

ppm

B: 50            Cu: 80               Zn: 80              Mn: 360

cfu/g

VSV(P): 1x106                Trichoderma sp: 1x106

20

BOF

%

HC: 20   N-P2O5(hh)-K2O: 1-1-1   CaO:2    SiO:2   MgO:0,5

Công ty Cổ phần Phân bón Sinh hoá Củ Chi

cfu/g

VSV(N): 1x106              Trichoderma sp: 1x106

21

OMIX (có bổ sung lân)

%

HC: 15             axit Humic: 5            P2O5(hh): 3

Cơ sở sản xuất phân hữu cơ Long Khánh

cfu/g

VSV(P): 1,8x106                VSV(X): 1,5x106

22

Hừng Sáng

%

HC: 22,5   N-P2O5(hh)-K2O: 1,5-1-1   Ca: 3    Mg: 2       S: 1

DNTN Hừng Sáng

cfu/g

VSV(N): 8,1x106       VSV(P): 1,2x107       VSV(X): 6,4x106

ppm

Cu: 20             Zn: 130                Mn: 300              B: 50

* Ghi chú: Đối với tất cả các loại phân bón hữu cơ vi sinh  dạng viên, bột yêu cầu độ ẩm £30%

V. Phân vi sinh vật

STT

TÊN PHÂN BÓN

 (HOẶC TÊN THƯƠNG MẠI)

ĐƠN VỊ TÍNH

THÀNH PHẦN VÀ HÀM LƯỢNG

CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHÍNH (%, ppm, hoặc cfu/g (ml)

TỔ CHỨC XIN ĐĂNG KÝ

13

ESSC

cfu/g

Bacillus: 1x107                     Paenibacillus: 1x107

Công ty LD Daekyung Vina

14

Maruzen

%

HC: 5,24                    N-P2O5(hh)-K2O: 0,37-0,03-0,24               Ca: 0,075             Mg: 0,026   

Công ty TNHH Thức ăn Thuỷ sản Việt Thăng

ppm

Fe: 7200            Mn: 9100          Cu: 420           Zn: 1700

cfu/ml

Lactobacillus sporengenes: 1x107                                  Photosynthetic bacteria: 1x107                                      Pseudomonas sp: 1x107         Streptomyces saraticus: 1x107


MỤC LỤC

I.

Phân bón và sản xuất nông nghiệp

3

II.

Phân bón vi sinh vật

6

1. Khái niệm

6

2. Phân loại phân bón vi sinh vật

9

III.

Một số loại phân bón vi sinh vật chủ yếu và tác dụng của chúng trong sản xuất nông, lâm nghiệp

11

1. Phân vi sinh vật cố định nitơ

11

2. Phân vi sinh vật phân giải photphat khó tan (phân lân vi sinh vật)

19

3. Phân vi sinh vật hỗn hợp

22

4. Phân vi sinh vật chức năng

23

IV.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực của phân vi sinh vật

26

1. Thuốc diệt nấm, trừ sâu

26

2. Các dinh dưỡng khoáng

27

3. Độ chua của đất (pH đất)

29

4. Nhiệt độ

29

5. Độ ẩm đất

29

6. Phèn, mặn

30

7. Vi khuẩn cạnh tranh

30

V.

Phương pháp sử dụng phân bón vi sinh vật

31

1. Chế phẩm vi sinh vật

31

2. Phân hữu cơ vi sinh vật

32

VI.

Yêu cầu chất lượng đối với phân bón vi sinh vật

33

VII.

Bảo quản phân bón vi sinh vật

34

VIII.

Quản lý Nhà nước về phân bón vi sinh vật

1. Khảo nghiệm phân bón

34

2. Danh mục phân bón

37

3. Sản xuất phân bón

38

4. Gia công phân bón

39

5. Kinh doanh phân bón

39

6. Xuất nhập khẩu phân bón

40

IX.

Sản xuất phân bón vi sinh vật ở Việt Nam

41

1. Các công ty mía đường

41

2. Các doanh nghiệp sản xuất khác

42

3. Các cơ sở nghiên cứu triển khai

45

X.

Xu hướng phát triển phân bón vi sinh trong sản xuất nông nghiệp

45

Phụ lục: Danh mục phân bón vi sinh vật

47

THÔNG TIN PHỤC VỤ LÃNH ĐẠO

_______________________

PHÂN BÓN VI SINH

Chịu trách nhiệm xuất bản

TS Trần Kim Tiến

________________________________________________________________________

Giấy phép xuất bản số 302/XB-BC cấp ngày 5/6/1985.
 Nộp lưu chiểu tháng 9/2007

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)