Lốp Radian - Tình hình phát triển công nghệ, thị trường và khả năng đầu tư

12:00' AM - Thứ năm, 16/12/2004

1. GIỚI THIỆU CHUNG

1.1. Thành phần và đặc tính kỹ thuật chung của lốp xe

Lốp ô tô bơm hơi được sử dụng phổ biến trên thế giới. Cùng với bộ giảm sóc, lốp giúp hạn chế bớt độ sóc nảy cho xe khi chạy trên các loại đường. Căn cứ vào kích cỡ và công dụng mà các loại lốp đều khác nhau về hình dạng, cấu tạo và tổng trọng lượng. Ví dụ, trọng lượng của lốp xe con đang sử dụng ở châu âu hiện nay là khoảng 6,5 kg/ chiếc, còn lốp xe tải là khoảng 53kg/ chiếc. Bảng dưới đây đưa ra so sánh trọng lượng và độ tải khác nhau của các loại lốp xe ca và tải.

Bảng 1

Loại xe

Trọng lượng lốp (kg)

Xe con

6,5 - 9

Xe đa dụng loại nhẹ

11

Xe trọng tải lớn

50

Xe tải kéo

55 - 80

Xe phục vụ nông nghiệp

100

Trọng lượng lốp xe càng lớn (xe phục vụ nông nghiệp) tỷ lệ lượng lốp chịu tải càng nhỏ. (lốp xe ca và xe tải hiện chiếm khoảng 85% tổng số lượng lốp các loại sản xuất trên toàn cầu).

Thành phần hóa học của lốp:

Nói chung, khoảng 80% trọng lượng lốp xe ca và 75% trọng lượng lốp xe tải là hợp chất cao su. Thành phần lốp sản phẩm của các nhà sản xuất khác nhau thường là hết sức giống nhau. Bảng dưới đây thể hiện thành phần vật liệu cơ bản của lốp xe con và xe tải.

Bảng 2

Vật liệu

Xe con

Xe tải

Cao su/ thể đàn hồi

47%

45%

Muội than

21,5%

22%

Kim loại

16,5%

25%

Vải bố

5,5%

-

Oxit kẽm

1%

2%

Lưu huỳnh

1%

1%

Phụ gia khác

7,5%

5%

* Một phần của muội than có thể được thay thế bởi silic ở một số loại lốp.

Lớp chứa khoảng 1,5% các nguyên tố hoặc hợp chất tính theo trọng lượng. Dưới đây là các thành phần nguyên tố trong lớp cao su:

Bảng 3

Thành phần

Tên hóa chất

Nhận xét

Hàm lượng,
% trọng lượng

Y22

Hợp chất chứa đồng

Thành phần hợp kim của vật liệu gia cố bằng kim loại (sọc dây thép)

Khoảng 0,02%

Y23

Oxyt kẽm

Tham gia vào thành phần cao su lốp

Khoảng 1%

Y26

Cadmi

Chỉ vết, dưới dạng hợp chất

Tối đa 0,001%

Y31

Chì

Hợp chất chứa chì

mức độ vết

Tối đa 0,005%

Y34

Dung dịch axit hoặc axit dạng rắn

Axit stearic dưới dạng rắn

Khoảng 0,3%

Y45

Hợp chất halogen hữu cơ

Cao su butyl halogen

Hàm lượng halogen, tối đa 0,1%

Đặc tính nhiệt:

Trị giá nhiệt tính bằng calo tịnh của 1 chiếc lốp là vào khoảng 32 -34 MJ/kg (triệu jun/kg). Một tấn lốp có giá trị năng lượng tương đương 1 tấn than chất lượng cao hoặc tương đương 0,7 tấn dầu đốt. Bảng so sánh dưới đây cho thấy mức độ năng lượng giữa lốp cao su với các nhiên liệu khác.

Bảng 4

Nhiên liệu

Thể loại

Dung lượng nhiệt

Khí

Tự nhiên

1.000 BTU/ft3

TDF

Nhiên liệu do lốp cung cấp

15.500 BTU/pao

Than

Cận bitum

10.500 BTU/pao

Than

Bitum

12.700 BTU/pao

Gỗ

Gỗ ướt/nhiên liệu nghiền

4.375 BTU/pao

Mức độ phát cháy của lốp giống như của bất kỳ sản phẩm hyđrocacbon nào, đều sản sinh ra CO2, nước cùng với các thải rắn. Nồng độ lưu huỳnh ở lốp (khoảng 1%) thấp giống như than và thấp hơn nhiều so với một số loại dầu.

1.2 Đặc điểm các thể loại lốp

Ngay từ năm 1949, hãng Michelin, Pháp đã cho ra đời những chiếc lốp xe radial đầu tiên, nhưng vào thời đó nó chưa gây được sự chú ý mặc dù có nhiều ưu điểm so với lốp mành chéo (bias) thông thường. Nguyên nhân chủ yếu khiến lúc đó chưa thể ứng dụng rộng rãi lốp radial do lúc đó hầu như chưa có hệ thống đường cao tốc, vì loại lốp này chạy trên đường tốt mới phát huy hết tính ưu việt của nó.

Cho đến năm 1955, hệ thống đường cao tốc ở các nước tiên tiến hình thành; lốp xe loại mành chéo khi chạy trên đường cao tốc phát sinh nhiệt nhiều nên tuổi thọ của nó bị giảm mạnh (tuổi thọ trung bình của lốp mành chéo trên đường thông thường là 25.000 km). Vì vậy, người ta bắt đầu chú ý đến việc sử dụng lốp radial và ngành sản xuất xe hơi đã cải tiến để theo kịp những ưu điểm sử dụng mà lốp radial mang lại.

Lốp xe thông thường phải có săm bên trong nên khi chạy tốc độ cao không an toàn. Mục tiêu mà lốp radial đạt được là đã tạo ra tổ hợp lốp săm thành một sản phẩm (hay gọi là lốp không săm). Tốc độ radial hóa lốp xe trên thế giới kể từ thời kỳ sau đó ngày càng tăng nhanh và các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản, Pháp... từ sau thời kỳ đó đã dần dần sản xuất 100% lốp radial. Kể từ năm 1990, tất cả các xe con xuất xưởng của họ đều lắp lốp radial.

Bảng dưới đây đưa ra so sánh hai loại lốp radial và lốp mành chéo (bias).

Bảng 5

Lốp radial

Lốp mành chéo (bias)

Vải thân lốp có góc Oo (hướng tâm)

Vải thân lốp chéo góc - 50o

Ít sinh nhiệt

Do tầng vải đặt chéo góc nhau, gây ma sát lớn, sinh nhiệt nhiều

Hoãn xung thép, có góc độ cao 62o-74o

Hoãn xung vải với góc độ 50o-58o

Mặt lốp tiếp xúc tốt với mặt đường, tránh tình trạng "vặn vẹo" khi di chuyển, vì vậy ít mòn hơn (độ mài mòn giảm 50%)

Mặt lốp không tiếp xúc tốt với mặt đường, gây ra tình trạng "vặn vẹo" khi di chuyển làm mặt lốp mau mòn

Chiều cao mặt cắt lốp thấp, lốp vững chắc hơn, đáp ứng nhanh khi bẻ lái, an toàn hơn

Chiều cao mặt lốp cao, lốp không vững chậm đáp ứng khi bẻ lái không an toàn bằng lốp radial

Tuổi thộ lốp cao, trọng lượng lốp nhẹ, giảm tiêu tốn nguyên liệu thiên nhiên

Tuổi thọ thấp, trọng lượng nặng hơn tiêu tốn nhiều cao su

Thường được chế tạo dưới dạng lốp không săm (tubeless) không bị mất áp lực đột ngột và không phải dừng xe thay lốp mỗi khi cán phải đinh hoặc vật nhọn. Các hãng sản xuất xe hơi đặt kế hoạch từ năm 2006 sẽ không thiết kễ chỗ để lốp dự phòng trên xe hơi

Lốp phải có săm đi kèm

Tiêu hao nhiên liệu thấp do giảm ma sát trên mặt đường, kháng lăn thấp

Tiêu hao nhiên liệu nhiều

Lốp radial cho độ bền cao gấp hai lần lốp bias

Chi phí sản xuất loại lốp radial không cao hơn 30% so với lốp bias

Độ bền và chi phí sản xuất bias thấp hơn lốp radial

Lốp radial làm cho xe chạy an toàn hơn ở tốc độ cao, hiệu quả hãm phanh tốt hơn khi đường ướt

Xe chạy kém an toàn ở tốc độ cao

1.3 Cấu tạo lốp xe

Các vạch lằn gai cấu trúc trên mặt lốp là phần để lốp tiếp xúc với mặt đường. Việc lựa chọn đúng thiết kế các vạch lằn gai lốp sao để lốp đáp ứng các ứng dụng riêng, tạo được sự khác biệt và theo yêu cầu của khách hàng.

Một thiết kế các vạch lằn gai thích hợp ở lốp xe sẽ mang lại lợi ích sau:

* Làm tăng độ bám dính của lốp trên mặt đường.

* Xe chạy với độ ổn định cao hơn.

* Tăng độ bền xe.

Cấu trúc (các rãnh Sipes):các rãnh nhỏ giống như rãnh hoa sâu giữa các khối trên mặt lốp, làm tăng số cạnh bám, qua đó làm gia tăng độ bám dính của lốp trên mặt đường, giúp xe vận chuyển tốt hơn, nhất là khi đi trên đường băng trơn, tuyết phủ và bùn nhão.

Cấu trúc mặt lốp tạo thành khối (block): chức năng chủ yếu của các khối mặt lốp là làm tăng bộ bám dính mặt đường cho lốp.

Cấu trúc thành khối sọc nổi(Ribs):nằm giữa các khối mặt lốp tạo ra đai nối chu vi

Cấu trúc thành các khía lõm: trên mặt lốp giúp tăng khả năng làm mát lốp

Vai lốp: là nơi tiếp xúc liên tục với mặt đường trong khi xe chạy.

Tỷ lệ khe rỗng: số lượng khe rỗng trên mặt lốp thấp có nghĩa là sẽ có nhiều phần cao su của lốp tiếp xúc với mặt đường. Tỷ lệ khe rỗng cao thì sẽ làm tăng khả năng thoát nước cho lốp khi tiếp xúc mặt đường. Tùy mục đích sử dụng mà người ta sản xuất ra loại lốp tỷ lệ khe rỗng khác nhau.

Rãnh hoa (Grooving): là các khe rỗng để tạo rãnh thoát nước trên mặt đường ướt; đây là cách hiệu quả nhất làm nước chảy được từ phía trước ra sau lốp.

Rãnh hoa được thiết kế theo chu vi sẽ tạo ra khoảng cách thoát nước ngắn nhất từ mặt trước lốp tới phần viền sau khi tiếp xúc mặt đường.

Các mẫu hoa lốp:

* Dạng sọc: các rãnh hoa chạy theo đường chu vi lốp.

- ưu điểm khi sử dụng loại lốp này là làm giảm ma sát, đồng thời giúp ổn định hướng lái và kiểm soát được xe nhờ sức cản ngang. Hoa lốp dạng sọc phù hợp với xe tốc độ cao vì mức độ phát sinh nhiệt thấp.

- Nhược điểm chủ yếu của hoa lốp loại này là tạo độ phanh yếu và độ bám dính mặt đường gia tăng khi đường ướt.

- Ứng dụng phù hợp với xe đi trên mặt đường lát, xe tải hoặc xe ca trục lái.

* Dạng vấu (gờ): hoa lốp được cấu tạo các rãnh vuông góc với chu vi lốp.

- ưu điểm chính của mẫu lốp loại này là tạo lực hãm và độ bám dính mặt đường rất cao.

- Nhược điểm lớn nhất của loại lốp này là gây tiếng ồn lớn khi chạy tốc độ cao. Thực tế, loại lốp này không phù hợp với tốc độ cao vì độ ma sát của chúng lớn.

- Ứng dụng phù hợp với xe đi trên đường nhiều bùn lầy, thường được lắp vào bánh sau xe chở khách, xe tải công nghiệp và xe tải tự đổ, tự lật.

* Dạng sọc - vấu: là dạng kết hợp giữa dạng sọc và vấu

- Đặc điểm chính loại lốp này là có sọc ở giữa để định hướng, trong khi phần vai lốp cấu tạo dạng vấu tạo độ hãm và lực lái tốt.

- Ứng dụng phù hợp với các loại xe chạy trên cả đường lát lần đường lầy lội... Loại lốp này được sử dụng cả ở bánh trước lẫn bánh sau của xe tải và xe bus.

* Dạng vân khối: loại lốp có vấu chia thành từng khối nhờ các rãnh dọc theo cả chu vi lẫn với rãnh ngang.

- Ưu điểm: lốp vân khối tạo khả năng kiểm soát lái tốt, ổn định khi chạy trên đường phủ tuyết hoặc đường ướt, có đặc tính rẽ nước tốt khi chạy trên đường ướt.

- Nhược điểm: vì khối vân trên lốp nhỏ nên lốp thường có trọng lượng lớn hơn.

- Ứng dụng thích hợp với các loại xe chạy vào mùa đông, hoặc làm lốp xe chở khách tất cả các mùa, cũng như làm lốp sau cho các xe thông thường.

* Dạng hoa lốp bất đối xứng:

Hoa lốp hai bên mặt khác nhau được thiết kế để đáp ứng yêu cầu đối nhau giữa khả năng bám của lốp trên mặt đường khô và rẽ nước mặt đường ướt. Loại lốp này phù hợp với xe chạy rẽ quặt góc tốc độ cao vì chúng có diện tích tiếp xúc mặt đường lớn giúp giảm sức tải bề mặt lốp.

- Lốp cấu trúc bất đối xứng thường phải được lắp đúng cách.

- Ứng dụng thích hợp cho các loại xe chạy chức năng cao và làm lốp xe mô tô đua.

* Dạng hoa lốp định hướng: hoa lốp được tạo thành nhờ các rãnh rẽ ngang hai bên lốp theo cùng một hướng.

- ưu điểm của loại hoa lốp theo định hướng này là tạo ra lực lái và hiệu quả phanh tốt, hoa định hướng cấu tạo riêng trên lốp tạo ra độ rẽ nước cao, có nghĩa sẽ rất ổn định khi chạy trên đường ướt nước.

- Hoa lốp định hướng phải được gia tăng ở hai phía theo hướng vằn lốp chính.

- Ứng dụng phù hợp với xe ca chạy tốc độ cao.

1.4. Quy cách chung khi trình bày sản phẩm lốp

Giải thích chung về:

Mã hiệu lốp "185/60 R14 - 82 H"

* 185 - Ba chữ số đầu của cỡ lốp thể hiện bề rộng của dấu lốp in trên mặt đường tính bằng milimét.

* 60 - Tỷ lệ bề cao/ bề rộng tính theo % (tỷ lệ bình diện). Hình trông nghiêng của lốp phù hợp với tỷ lệ bình diện. Tỷ lệ  bình diện 60 có nghĩa là chiều cao của lốp bằng 60% chiều rộng. Chiều cao tính bằng mét.

* R - Tiêu chí thể hiện cấu tạo lốp có bố tỏa tròn radial. Hầu hết lốp xe hiện nay đều có bố tỏa tròn (dạng radial) để đảm bảo độ bền, bám đường và hiệu suất sử dụng cao. Xe tải và xe cộ lớn thường vẫn được lắp lốp mành chéo (bias) tuy rẻ tiền hơn và trong thời gian tới cũng vẫn được sử dụng rộng, nhưng khi chạy tốc độ lớn thì sẽ không bền.

* 14 - cỡ viền/ đường kính bánh xe: được thể hiện bằng đơn vị đo "insơ", là cỡ vành thép hoặc nhôm để gắn lốp. Cỡ vành từ 10 insơ (loại xe nhỏ) tới 17 insơ hoặc 19 insơ (ở xe to hơn).

* 82H - Chỉ số tải và vận tốc: lốp chịu được tốc độ cao T có thể đạt mức chạy 190 km/giờ. Tốp vận tốc H có thể chạy tối đa 210 km/giờ. lốp vận tốc V có thể chạy ở tốc độ 240 km/giờ.

Chỉ số tốc độ: chỉ số vận tốc ở lốp radial được đưa ra dưới đây là con số thể hiện tốc độ tối đa:

Chỉ số                   dặm/giờ       km/giờ

 P                 93               150

              S                112              180

              T                118              190

              U                125              200

              H                130              210

V                149              240

              W               168              270

              Y                186              300

2. LỐP RADIAL

2.1 Quy trình sản xuất truyền thống

Việc sản xuất lốp radial được khởi đầu bằng nhiều loại nguyên liệu, chất mầu, hóa chất, các chất liệu cao khác nhau, sợi vải bố, tanh, v.v... Quy trình sản xuất lốp bắt đầu từ khâu pha trộn cao su nguyên liệu với dầu công nghệ, muội than, bột mầu, chất chống oxy hóa, chất gia tốc và các phụ gia khác. Hợp chất chung tạo thành sẽ hội tụ đầy đủ các đặc tính từ mỗi thành phần tạo nên chúng.

Các chất tham gia được trộn chung trong một máy nhào trộn lớn trong điều kiện nhiệt độ và áp suất cao. Các chất thành phần sau khi nhào trộn với nhau trở thành hỗn hợp dính màu đen rất nóng, để sau đó có thể được cán nhiều lần.

Hỗn hợp cao su làm nguội có thể dưới nhiều dạng. Sau khi được tạo thành dạng phổ biến nhất là tấm phẳng, cao su được chuyển sang máy cán dập (từng cặp rulo quay lớn sẽ nhào nặn, pha trộn hợp chất này, biến nó thành chất liệu phù hợp với từng bộ phận trên lốp) rồi đưa sang bộ phận chia thành từng thỏi để truyền theo băng chuyền đến nơi ép thành sườn, vành và các phần khác của lốp.

Một thành phần khác cấu thành nên vỏ lốp là bố vải: Các cuộn bố vải lớn được chế tạo giành riêng cho lốp có thể từ các chất liệu: polyeste, rayon, hoặc nilon. Hầu hết lốp xe chở khách hiện nay sử dụng loại bố polyeste. Phần vành lốp (còn gọi là mép lốp) được gắn tanh thép chịu sức căng lớn, làm cho lốp có thể lắp khít vành bánh xe.

Lốp radial được thiết kế căn cứ trên hai đặc điểm: nguyên liệu tạo lớp kép ở lốp radial là cao su tổng hợp,(thường gọi là cao su chống thấm khí (inner-line) có đặc tính không thấm khí nên lốp không cần săm đi kèm như các loại lốp cao su  thông thường khác.

Trước khi được đưa vào khuôn rập, lốp phải trải qua công đoạn tạo dáng để phù hợp với kích cỡ dự định. Tại đây khung thép được đưa vào tạo hoa gai lốp và là phần cuối cùng trong quá trình ép lốp. Sau phần quay rulo, khuôn ráp sẽ ép kết cấu các thành phần lốp với nhau. Lốp radial thành phẩm được đưa sang bộ phận kiểm định và xử lý bảo dưỡng.

Công đoạn ép thành hình và lưu hóa là nơi lốp được định hình và tạo các vân lốp. Khuôn nóng gồm các bánh ép định hình lớn bằng thép sẽ tạo dáng và lưu hóa lốp. Tại đây các thông tin quy định về lốp radial cũng được đưa vào in tại vùng hông lốp.

Lốp radial khi ép thành hình được xử lý ở môi trường 300oC trong 12 -25 phút, tùy theo từng kích cỡ, rồi theo dây chuyền đến bộ phận giám định thành phẩm.

Lốp không đạt tiêu chuẩn bị loại bỏ ngay. Kiểm định chi tiết có thể được các giám định viên thực hiện bằng mắt và tay. Ngoài ra còn phải kiểm định bằng X quang  để phát hiện các chi tiết lỗi tiềm ẩn bên trong.

Để sản xuất ra loại lốp radial loại A cần có: sợi thép, nylon, sợi aramic, rayon, bông thủy tinh, hoặc polyeste(thường người ta sử dụng kết hợp: sợi polyeste trong mành lốp với sợi thép trong đai lốp và mép lốp cho hầu hết lốp xe radial chở khách).

Cao su:                   tự nhiên và nhân tạo (có hàng trăm loại polyme)

Hóa chất gia cố:       muội than, silic, nhựa

Chất chống lão hóa: chất chống oxy hóa, chất chống ozon hóa, sáp parafin

Chất tăng kết dính:   muối coban, đồng thau bọc dây, nhựa bọc sợi

Chất lưu hóa:           Chất xúc tiến lưu hóa, hoạt hóa, lưu huỳnh

Chất hỗ trợ xử lý:     dầu, chất làm mềm, chất giải keo, chất tăng độ dính.

Thí dụ về đơn pha chế thành phần cao su cho lốp radial cho xe con phổ biến nhất mã A P 195/75R 14 có trọng lượng khoảng 21 pao cần số nguyên liệu như sau:

- 5 pao cao su tổng hợp (30 loại khác nhau)

- 4 pao cao su tự nhiên (có 8 loại khác nhau)

- 5 pao muội than ( 8 loại khác nhau)

- 1 pao dây thép làm đai

- 1 pao sợi thép tanh lốp

- 3 pao các loại hóa chất, sáp, dầu, chất mầu khác nhau, v.v...

Tỷ lệ % điển hình giữa cao su tổng hợp/tự nhiên trong các loại lốp khác nhau như sau:

Lốp xe con                                         55%/ 45%

Lốp xe tải nhẹ                                     50%/ 50%

Lốp xe đua                                         65%/ 35%

Lốp xe chạy tốc độ thấp                    20%/  80%

Bảng 6: Kích thước, tải trọng, áp suất bơm của các loại lốp radial

Quy cách

Mã vành

Lốp mới

Áp suất bơm (kg/cm2)

Tải trọng

Tốc độ

Bề rộng max (mm)

Đường kính (mm)

Chỉ số tải

Tải trọng tốc độ

Ký hiệu tốc độ

Tốc độ tối đa (km/h)

155/65R13

4.50

163

526-938

2.4

73

365

P

150

165/65R13

5,00

177

538-550

2,4

77

412

P

150

145/70R13

4,50

156

528-540

2,4

71

345

P

150

145/80R13

4.50

152

555-569

2,4

75

387

P

150

175/70R

5.0

184

569-583

2,4

82

475

P

150

175/R13C

5,0

187

603-621

4,5

92S

97D

730

690

P

150

185/70R13

5,5

197

582-598

2,4

86

530

P

150

2.2 Một vài cải tiến công nghệ gần đây ở một số cơ sở sản xuất

Trong lĩnh vực công nghiệp nói chung, một cải tiến có thể diễn ra dưới ba dạng khác nhau như sau: cải tiến thị trường được coi là đổi mới cách bán hàng; cải tiến sản phẩm có sẵn nghĩa là làm cho nó tốt hơn so với các hãng cạnh tranh và cải tiến công nghệ sản xuất có nghĩa là tạo ra hệ thống sản xuất mới từ cơ sở sẵn có.

Công nghệ MIRS: Cuộc cách mạng cải tiến công nghệ sản xuất có tên gọi MIRS của hãng Pirrelli (Italia) bao hàm cả lĩnh vực công nghệ, thiết bị và nguyên liệu. Sản phẩm và thị trường của hãng này vẫn thế nhưng công nghệ được cải tiến đã tạo ra một cuộc cách mạng lớn về cả quan niệm và sản phẩm mới.

Xí nghiệp xây dựng trên cơ sở công nghệ MIRS thường nhỏ, năng động, nên có thể dễ chuyển đổi khi cần thiết, giảm được chi phí sản xuất và thời gian. Cải tiến mang tính hiện đại của loại xí nghiệp này đã làm cho nó khác hẳn các xí nghiệp lớn khác đang sản xuất bằng công nghệ cũ. Công nghệ cải tiến đã tạo ra khả năng biến đổi các xí nghiệp sản xuất lốp truyền thống cồng kềnh thành mô hình nhỏ và gọn nhẹ (MIRS của Italia nói riêng và một số hãng khác trên toàn cầu).

Từng pha trong công nghệ sản xuất của MIRS từ khâu thiết kế tới toàn bộ các khâu sản xuất khác đến khi ra thành phẩm được kiểm soát bằng công nghệ tin học và được điều khiển chính xác toàn bộ chu trình sản xuất với tốc độ cao: từ cao su tới khi ra lò một chiếc lốp chỉ mất ba phút không gián đoạn, không tạo bán sản phẩm qua các pha trung gian và ít tiêu tốn năng lượng. Phần mềm điều khiển toàn bộ các pha sản xuất với các thao tác và công đoạn:

* Điều vận các robot

* Chuyển nguyên liệu tự động

* Lựa chọn cỡ lốp và qua đó lựa chọn thiết bị gia công

* Sản xuất vỏ lốp

* Lưu hóa

* Kiểm tra chất lượng

* Xử lý sản phẩm

Công nghệ MIRS có thể được coi là một thiết kế phần mềm vi tính hóa duy nhất, bắt đầu từ khâu xác định quy cách sản phẩm, quyết định thiết kế khuôn một cách tự động, lựa chọn nguyên liệu, thiết kế thiết bị gia công và giám sát toàn bộ các pha sản xuất tới khi dây chuyền sản xuất cho ra sản phẩm hoàn hảo. Một phần mềm tương tự có vai trò điều khiển robốt và chu kỳ hoạt động của nó phù hợp từng pha sản xuất.

Bí quyết thật sự của toàn bộ hệ thống năng động của MIRS nằm ở chỗ thống nhất hoàn toàn từ khâu thiết kế sản phẩm tới toàn bộ quy trình sản xuất.

Giải pháp "Creel room"

Trong quy trình sản xuất lốp radial, sự có mặt của độ ẩm cao khiến cho sợi thép dễ bị rỉ, ảnh hưởng tới tốc độ, giảm độ bền lốp và hậu quả của quá trình hóa rỉ đã làm mối kết nối giữa sợi thép và cao su dễ bong.

Công nghệ sử dụng giải pháp "creel room" sẽ giúp duy trì được độ ẩm tương đối trong quy trình sản xuất lốp từ 20 + 5% ở nhiệt độ 25 + 5oC.

Sợi mành hướng tâm (radial) là kỹ thuật được sử dụng phổ biến nhất trong công nghệ sản xuất lốp radial. Nhược điểm duy nhất ở đây là sợi thép mềm căng ngang dễ bị rỉ sau một thời gian thường làm cho lốp nhanh thủng và bị xé rách. Nếu dùng sợi bọc nilon bên ngoài thép có thể giảm bớt được quá trình hóa rỉ, nhưng cách tốt nhất ở đây là cải thiện môi trường sản xuất để không xẩy ra quá trình hóa rỉ cho sợi thép.

Các nhà sản xuất lốp thường theo đuổi nhiều công nghệ khác nhau để sản xuất ra loại lốp nhiều lớp đạt kết quả tốt. Một số nhà sản xuất chỉ sử dụng sợi thép gia cường, một số khác lại gia cố sợi thép bằng các mối đan chéo.

Trong buồng "creel room", nơi thao tác tháo sợi bố vải và thép ra khỏi vòng cuốn thường trong trạng thái độ ẩm cao nên tiềm ẩn nguy cơ rỉ hóa làm lốp không bền, giải pháp khử độ ẩm trong vùng thao tác này trở thành một trong các bí quyết sản xuất lốp bền. Các hãng sản xuất lốp thường cải thiện môi trường trong "creel room" nhờ sử dụng biện pháp "Bry-air" (lắp đặt một số máy hút ẩm có chất lượng cao để duy trì độ ẩm ở 20 +5%). Môi trường ẩm xung quanh "creel room" rất dễ thấm vào lớp mành vừa được gia công trong buồng "creel room", vì thế không đưa sản phẩm ra khỏi "creel room" trừ khi nó ở nhiệt độ cao hơn điểm nhiệt độ đổ mồ hôi (ngưng hơi) ở môi trường bên ngoài.

Thực tế đã chứng minh lốp radial được sản xuất tuân thủ quy trình xử lý nói trên có tuổi thọ cao hơn lốp sản xuất thông thường.

Công nghệ sử dụng nitơ cao áp và hơi nước lưu hóa cao su ở lốp radial.

Các nhà sản xuất lốp radial cho các loại ô tô và xe tải lớn thường tiến hành lưu hóa các hợp chất cao su cấu thành nên lốp ở nhiệt độ và áp suất tăng cao ngay tại nơi đặt các khuôn ép tạo mép lốp. Môi trường nitơ cao áp và hơi nước có thể được sử dụng vào lúc đúc khuôn hoặc dùng để lưu hóa lốp.

Việc sử dụng nitơ và hơi nước mang lại hai lợi ích chính: Thứ nhất, nhờ cùng bơm hơi nước nhiệt độ cao và nitơ áp suất cao, người ta có thể tạo ra một chu trình lưu hóa tuần hoàn, trong đó nhiệt độ và áp suất tách biệt, không phụ thuộc nhau, tạo nên kết quả tối ưu. Nhờ vậy sẽ tránh không phải sử dụng hệ thống nước nóng cao áp thường gây hư hại thiết bị; Thứ hai là có thể hạn chế tới mức tối thiểu lượng oxy trong hệ thống lưu hóa, tăng độ bền phần trong lốp, đồng thời giảm độ ăn mòn của hệ thống.

Nitơ ở áp suất 400-600 psig được bơm vào ruột lốp cùng với hơi nước. Áp lực cao sẽ gây nén ép lốp vào sát thành khuôn, đồng thời đẩy không khí nằm giữa các lớp trong lốp ra ngoài. Hãng "Air products" là cơ sở chuyên tư vấn và bàn giao các bí quyết kỹ thuật về vấn đề này.

Công nghệ đắp lại lốp ôtô cũ bằng mặt lốp có hoa vân mới

Đắp lại lốp là một kỹ thuật tạo sự kết gắn giữa lớp cao su ở lốp cũ đã bị lưu hóa từ trước với một lớp cao su mới. Thông thường điều này được thực hiện đơn giản chỉ bằng phương pháp dùng nhiệt lưu hóa sơ bộ tiến hành tạo lại vân hoa lốp, quá trình sau đó sẽ hoàn thiện sự kết nối giữa lớp cao su lưu hóa mới với bề mặt lốp cũ. Quá trình lưu hóa sơ bộ góp phần tiết kiệm nhiên liệu.

Theo con số nghiên cứu, lốp đắp lại chiếm 10% doanh số thị trường lốp thay thế toàn cầu (có giá chỉ bằng 20% nhưng có tuổi thọ bằng 70 - 80% so với lốp mới). Hầu hết lốp xe đang sử dụng tại Ấn Độ hiện nay là lốp đắp lại ít nhất hai lần, có loại đắp lại tới 3 lần).

Lốp môtô cải tiến mới của Bridgestone: "BATTLAX BT-014"

Từ đầu năm 2004, hãng Battlax đưa ra loại lốp xe máy radial cải tiến mới, sử dụng cho loại xe tốc độ cao của Bridgestone, lốp BT - 014 mang đầy đủ ưu điểm trong cả chức năng hỗ trợ điều khiển xe, tăng độ bám mặt đường, độ ổn định và độ bền cao. Hãng đã sử dụng hợp chất cao su tạo vằn gai lốp mới và cải tạo cấu trúc cốt lốp. Lốp BT - 014 sau có cấu trúc lớp lót chống rung bên trong được thiết kế các rãnh hoa nhiều hướng trên vỏ lốp để giúp giảm sự biến dạng nên đã làm tăng hiệu quả sử dụng lên rất nhiều. Phần mép lốp được gia cố với tanh lốp hoàn toàn bằng thép đặc biệt có tác dụng tăng độ bền đối với các biến dạng nhanh.

Loại lốp BT - 014 cũng được các hãng xe máy Honda, Suzuki công nhận phù hợp với các loại xe máy đời mới nhất.

Loại lốp xe máy BATTLAX BT - 020 và BT - 45; BT - 002 phù hợp chủ yếu đối với các loại xe đua, cụ thể:

Loại lốp radial BT - 020 hết sức lý tưởng đối với xe phân khối lớn 600 - 1200 cc như Aprilia, Caponord, BMWR-1150 GS, Honda Varadero và Suzuki V - Strom.

Loại lốp radial BT - 45 phù hợp với loại xe phân khối nhỏ hơn 250 - 600 cc như xe của hãng Honda, Kawasaki.

Lốp xe máy BT - 002 có độ bám dính mặt đường tăng cao, phanh hãm được  cải tiến đáp ứng cực kỳ nhạy bén đối với các loại xe đua.

Hệ thống sản xuất BIRD mới của hãng Bridgestone

Hãng Bridgestone, Nhật Bản, vừa mới công bố về hệ thống sản xuất lốp xe radial mới, hoàn toàn tự động, từ khâu nguyên liệu tới khâu kiểm định, đóng gói thành phẩm. Hệ thống mới này có tên gọi là BIRD (hệ thống công nghệ cải tiến và triển khai thích hợp của hãng Bridgestone).

Theo Bridgestone, hệ thống này đã được thử sản xuất trên quy mô lớn trong một xí nghiệp pilot ở Nhật Bản và đang nhân rộng ra các nhà máy của hãng đặt ở khắp nơi trên toàn cầu.

Hệ thống mới tập trung vào ba yếu tố chính. Thứ nhất là hệ thống đồng bộ sản xuất lốp tự động hóa của Bridgestone (ATMSS) điều khiển thống nhất từ khâu nạp nguyên liệu tới khâu sản phẩm.Thứ hai là hệ thống giám định lắp ráp tự động (AIMS) kiểm định thành phẩm hoàn toàn tự động. Thứ ba là hệ thống tiếp cận thông tin có định hướng của Bridgestone (FOA) sử dụng thông tin từ các nguồn để quản lý hệ thống thông qua mạng thông tin.

Theo Bridgestone, hệ thống BIRD mang lại nhiều lợi ích thiết thực, chủ yếu là tạo ra được sự năng động hết sức lớn trong việc tìm ra cấu trúc lốp mới hoặc nguyên liệu mới dành cho sản xuất. Hệ thống này đựoc hàng loạt nhà sản xuất kể cả các nhà sản xuất lốp siêu hiệu quả công nhận. Hệ thống cũng có thể áp dụng các kĩ thuật sản xuất lốp có độ chính xác cao, tạo ra loại lốp cấu trúc đồng nhất và cân đối.

Nhờ hệ thống mới này, năng suất tổng sản phẩm của hãng sẽ tăng cao gấp hai lần so với năng xuất do hệ thống sản xuất hiện đại nhất mà Bridgestone hiện đang sử dụng.

Mức tiêu thụ năng lượng sử dụng ở BIRD giảm đáng kể,( thấp hơn 40%so với mức năng lượng công nghệ hiện tại) đồng thời giảm mức phát sinh CO2trong quá trình sản xuất CO2. Đổi mới chủ yếu ở BIRD là tính sử dụng độc lập của nó. Bridgestone đã đưa ra công nghệ BIRD riêng cho từng nhà máy sử dụng hệ thống này.

Điều mang lại ý nghĩa to lớn nhất của BIRD là đã nâng được công suất của nhà máy sản xuất lốp radial(ví dụ từ 200.000 chiếc /năm lên 350.000 chiếc /năm) trong khi diện tích cho một nhà máy chỉ cần từ 1/4 - 1/5 so với diện tích một nhà máy thông thường.

"Apollo Tyres" Ấn Độ thông báo sản xuất lốp radial kiểu mới

Michelin Apollo Tyres là liên doanh giữa Tập đoàn Michelin (Pháp) với Công ty Apollo Tyres (Ấn Độ) thông báo họ vừa đưa ra loại lốp radial mới cho xe tải và xe bus tại thị trưòng Ấn Độ.

Các loại lốp mới này dựa trên công nghệ hàng đầu của Michelin. Loại lốp mới sẽ mang thương hiệu của cả hai hãng Michelin và Apollo.

Lốp radial cải tiến vành thép 0odành cho xe đạp đường trường

Lốp radial được sản xuất có sự tham gia của hợp chất silic tạo ra độ bám dính mặt đường khô cao với khả năng vận chuyển hoàn hảo. Lốp đi trên đường ướt tốt và thích hợp với điều kiện phanh gấp nhờ có thiết kế hoa văn lốp nằm ngang.

Kiểu thiết kế vằn gai lốp nằm ngang là thiết kế điển hình của hãng Metzeler.

Lốp radial mới của hãng Bridgestone

Bridgestone Earthmover Tyres Pty Ltd (ôxtrâylia) vừa thông báo đưa ra hai loại lốp OTR mới là: lốp radial bám dính sâu mặt đường tanh thép V(V-SDT) và lốp bám mặt đường tanh thép (VSNT) E4/L4 phù hợp với các loại xe tải lớn, nhỏ, xe hoạt động trong hầm mỏ.

3. TRIỂN VỌNG VÀ CHIẾN LƯỢC NGÀNH SẢN XUẤT LỐP TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CAO SU TOÀN CẦU

Thông thường người ta chia ngành cao su ra thành ba khu vực phân ngành chính:

* Sản xuất cao su tự nhiên và tổng hợp dưới dạng nguyên liệu

* Sản xuất lốp xe các loại

* Sản xuất các sản phẩm cao su khác

Các xu hướng trong sản xuất nguyên liệu nói chung có thể được coi là một tiêu chí thể hiện tình hình của từng phân ngành. Điều đáng lưu ý ở đây là mức tiêu thụ cao su liên tục tăng trong các năm gần đây (kể từ năm 1994).

Mức tiêu thụ cao su năm 2001 toàn cầu đạt kỷ lục gần 19 triệu tấn. Ngành công nghiệp ô tô năm 2002 phát triển chậm lại rõ ràng đã ảnh hưởng tới ngành sản xuất lốp. Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng cho biết vào cuối năm 2002 đầu 2003, mức sản xuất ô tô đã hồi phục. Tốc độ phát triển ô tô năm 2002 trên toàn cầu như sau:

Bắc Mỹ                                       10,6%

EU                                               4,1%

Châu ÁThái Bình Dương             4,7%

Tây âu                                        6,8%

Châu Phi                                      3,7%

Châu Mỹ La tinh                          3,1%

Cũng theo các nhà phân tích, năm 2003 và các năm tiếp theo, triển vọng của ngành sản xuất săm lốp sẽ khả quan hơn.

Mặc dù có diễn biến lạc quan, song vẫn còn một vấn đề trở ngại, đó là giá cao su tự nhiên đang tăng lên nhanh chóng. Nói chung mức tiêu thụ cao su toàn cầu là 60% cao su tổng hợp và 40% cao su tự nhiên.

Hiện tại ba nước sản xuất cao su tự nhiên lớn nhất thế giới sản xuất được 70% tổng lượng cao su tự nhiên toàn cầu đã thànhlập Hiệp hội cao su ba bên Quốc tế, tổ chức này giống như hình ảnh của Tổ chức OPEC, được tạo ra với mục tiêu giữ giá ổn định, giúp họ giữ vững thị trường.

3.1. Vai trò chủ yếu của ngành sản xuất lốp

Có tới 60-70% cao su được sản xuất ra để phục vụ cho ngành sản xuất lốp xe, ngành này lại phụ thuộc vào ngành sản xuất ô tô. Tức là suy cho cùng ngành sản xuất lốp xe phụ thuộc vào tình hình kinh tế và thị trường chung.

EU và Bắc Mỹ hầu như đã bão hòa thị trường về các loại xe nói chung. Vì vậy tốc độ phát triển lốp xe khu vực này kém hơn so với khu vực Châu Áhoặc Đông âu, nơi có các thị trường như Trung Quốc hoặc Nga đang ngày càng gia tăng số lượng các nhà sản xuất lốp xe.

Ví dụ: Rumani là nước hiện có mức lương bằng 1/10 mức lương đang được trả ở Tây âu, nhưng lại đang có nhu cầu sử dụng lốp tương đương. Trong một vài năm tới, 22 triệu dân nước này sau thời kỳ chuyển tiếp từ khủng hoảng kinh tế sang mở rộng kinh tế Đông âu sẽ có mức sống lên ngang bằng mức sống phương Tây thì triển vọng về một tốc độ tăng trưởng cao về nhu cầu ô tô hàng năm sẽ đến đâu.

Trung quốc đang trên ngưỡng cửa công nghiệp hóa đất nước sau hai thập kỷ mở cửa hiệu là thị trường rất lớn với gần 1,3 tỉ dân, chiếm 1/5 tổng dân số toàn cầu. Thủ đô Bắc Kinh hiện có số dân 13 triệu người. Trong 6 tháng đầu năm 2002, có tới 99.000 ô tô mới được cấp giấy phép, tăng 33%. ông Steven Torok, Phó Chủ tịch HĐQT hãng Mitsubishi (Nhật Bản) đưa ra dự đoán rằng trong vòng từ 5 đến 10 năm tới, Trung Quốc sẽ là thị trường ô tô lớn thứ ba toàn cầu. Điều đó có nghĩa là sẽ có từ 4 đến 5 triệu ô tô mới hàng năm được bán ra. Chính vì thế mà ngay từ năm 2000 hãng Michelin đã mở cửa nhà máy sản xuất lốp ô tô lớn nhất tại Trung Quốc.

Ngoài sự phát triển tại khu vực Châu Ávà Đông âu, còn có một thị trường khá ổn định, tại Châu Phi và Châu Mỹ La tinh. Tuy nhiên kể từ tháng 1 đến tháng 7/2002, doanh số ô tô con tại Achetina tụt xuống 53,3% so với mức doanh số năm trước. Tại Brazil, mức sụt giảm doanh số là 15,8%. Cuộc khủng hoảng ở Nam Mỹ đã ảnh hưởng tới Achetina. Vấn đề này đã làm cho việc sản xuất ô tô dư thừa công suất trầm trọng hơn. Kể từ năm 1996 tới năm 2001, các nhà sản xuất ôtô và các nhà cung cấp của họ đã đầu tư khoảng 25 tỷ USD chỉ riêng tại Brazil để xây dựng các nhà máy mới vói mô hình mới. Nhưng năng suất hiện nay của dây chuyền 3,2 triệu ô tô này chỉ có hiệu suất khoảng 50%.

Ngành sản xuất ô tô thế giới đang lo ngại tốc độ mở rộng sản xuất tại Trung Quốc sẽ bị chậm lại.

Hiện tại áp lực ngày càng đè nặng lên ngành sản xuất các sản phẩm cao su nói chung. Chiến lược của ngành ô tô về cơ bản là phải chuyển được chi phí sản xuất và hậu cần sang khu vực khác đồng thời giảm được giá theo yêu cầu.

Để đáp ứng với tình hình thị trường mới, ngành sản xuất các sản phẩm cao su đã thực hiện nhiều hợp nhất và thỏa thuận hợp tác, không chỉ ở mức độ quốc gia mà ở tầm cỡ quốc tế, vấn đề kinh doanh chính được xem xét lại với một số mảng trong ngành kinh doanh dược chuyển giao và bán đứt nhằm đạt được hệ thống hiệu quả hơn.

3.2 Cơ cấu ngành sản xuất lốp

So với các ngành công nghiệp khác, ngành sản xuất lốp xe nói chung khá nhỏ nhưng hiệu quả lao động lại cao.

Thị trường lốp xe thuộc loại thị trường điển hình ít nhiều mang tính độc quyền, nên giá cả rất dễ dao động mỗi khi có sự cạnh tranh. Điều này được phản ảnh thông qua doanh số hàng hóa. Ba hãng sản xuất lốp xe lớn nhất hiện nay (Bridgestone, Michelin và Goodyear) có tốc độ quay vòng vốn gấp hai so với 7 hãng còn lại.

Tổng doanh số lốp xe chiếm tới 70% trong ngành hàng cao su đã giải thích lý do tại sao các nhà sản xuất lốp xe lại kiên trì theo đuổi chiến lược sản xuất sản phẩm này.

Hợp nhất, mua quyền sở hữu và liên doanh là dấu hiệu rõ rệt của quá trình tập hợp và là những phản ứng mới đối sức ép về chi phí lớn trong ngành sản xuất xe hơi. Đây cũng là cách phản ứng trong việc đáp ứng yêu cầu trong cả quan hệ xây dựng hệ thống các nhà cung cấp lốp xe.

Bên cạnh các quá trình đang diễn ra này, ngày càng phát triển nhiều hơn các mối liên minh tầm cỡ toàn cầu. Thực hiện được liên minh có nghĩa là thực hiện được sự hỗ trợ marketing sản phẩm cả đôi bên cùng có lợi. Điều đạt được ở đây đối với các công ty nhỏ hơn là họ sẽ tránh bị đánh bật ra khỏi thị trường, tại đó ngự trị toàn các nhà sản xuất lốp lớn. Ngoài ra, các công ty nhỏ cũng có thể thực hiện chính sách hùn vốn hoặc chấp nhận làm chi nhánh cho các công ty lớn. Ví dụ hiện nay hãng sản xuất lốp Woosung Hàn Quốc và một số hãng khác đang thực hiện chính sách hùn vốn hợp tác sản xuất.

Hãng Bridgestone (Nhật Bản) ngay từ năm 2002 đã đàm phán cùng lúc với cả Continental AG (Đức) và Yokohama (Nhật Bản) về xu hướng trên. Cả ba hãng lớn này vẫn tiếp tục sản xuất độc quyền độc lập nhưng sẽ tiến hành hợp tác trên cơ sở trao đổi kinh nghiệm sản xuất và bí quyết kỹ thuật. Cả ba cơ sở sẽ dùng chi phí R & D của mình  để thực hiện điều này. Vấn đề hợp tác này cũng làm thông thoáng hơn luồng thị trường, vì các bên đều sử dụng cơ cấu phân phối sản phẩm. Điều này cũng dẫn tới quá trình tập hợp cao hơn. Nếu vào những năm 1990 cả ba hãng sản xuất lốp lớn này khống chế được 60% thị phần, thì theo các nhà phân tích, vào năm 2008, thị phần của họ sẽ đạt mức 80%.

Nếu chúng ta bàn về các nhà sản xuất lốp trong tương lai thì chúng ta đừng quên bàn tới các nhà sản xuất ô tô đồng thời là những nhà cung cấp cả các phụ kiện khác (ghế, đệm, dây an toàn, bộ giảm sóc lắp ráp, v.v...).

Trước đây vị trí thị trường do các Tổng hành dinh công ty mẹ nắm quyền điều khiển. Goodyear điều khiển thị trường Bắc và Nam Mỹ, Michelin điều khiển thị trường Châu âu và Châu Phi, còn Bridgestone thì chi phối thị trường Châu Á - Thái Bình Dương. Rõ ràng đã có sự thỏa thuận ngầm nhằm ngăn cản không để các công ty khác lọt vào thị trường gạo cội của họ. Nhưng nay để theo kịp quá trình toàn cầu hóa, việc chuyển động vốn một cách tự do đã bắt đầu mở đường vào thị trường đã có chủ.

Các hãng sản xuất lốp lớn hiện có chiến lược ba hướng:

* Chuyển sang thị trường Châu Ávà Đông âu đang phát triển

* Giành lại thị phần từ các thị trường cũ

* Đảm bảo cung cấp rộng khắp

Các chiến lựoc đa quốc gia được tổng quát như sau:

1- Hiệp lực giữa các hãng (lĩnh vực kinh tế)

2- Tập trung vào vấn đề kinh doanh chủ yếu

Về đầu tư: chỉ trong 12 tháng gần đây (2002 - 2003), các hãng sản xuất lốp đã chi phí hơn 1,6 tỷ USD mở rộng công suất và hiện đại hóa nhà máy, gần bằng con số đầu tư của cả hai năm trước đó.

Hãng Bridgestone: Trong hai năm tới sẽ đầu tư 250 triệu USD.

* 40 triệu USD đầu tư tại Nhật Bản (bổ sung năng lực sản xuất 5.000 bộ lốp /ngày vào cuối năm 2002.

* 80 triệu USD đầu tư tại Thái lan tăng công suất lên 55,5% vào cuối năm 2004).

* 8 triệu USD tại Indonesia (tăng công suất lên 20%).

* 8 triệu USD tại Trung quốc (tăng công suất lên 27%).

* 60 triệu USD tại Ba lan (tăng công suất lên 50% vào cuối năm 2004).

* 240 triệu USD tại Costa Rica (tăng công suất lên hơn 100% vào cuối năm 2004).

* 8 tiệu USD tại Mexico (tăng công suất lên 7,7% vào cuối 2002).

* 22 triệu USD tại Canada (trang bị để mở rộng mặt hàng lốp các loại).

Hãng Goodyear: đầu tư gần 500 triệu USD.

* 250 triệu USD tại Mỹ/Oklahoma (hiện đại hóa nhà máy sản xuất lốp radial cho xe chở khách trong 4-5 năm tới).

* 250 triệu USD tại Mỹ/Kansas(đổi mới trang thiết bị, dây chuyền công nghệ & kỹ thuật trong 5 năm tới).

* 120 triệu USD tại Trung Quốc (tăng công suất lên gần 300% và tăng gấp đôi số nhân công đạt mức 1000 người vào năm 2006).

* 5 triệu USD tại Niuzeland (liên doanh tăng sản lượng đạt mức 2/3 sản lượng vào năm 2003).

Hãng Michelin: đầu tư gần 260 triệu USD.

* 200 triệu USD tại Mỹ/Nam Carolina để mở rộng nhà máy.

* 56 triệu USD tại Mỹ/Oklahoma đổi mới trang thiết bị.

* 3 triệu USD tại Mexico mở lại nhà máy đã đóng cửa từ 2 năm qua.

Hãng Pirelli Italia: đầu tư 136 triệu USD.

* 136 triệu USD tại Brazil (bổ sung công suất lốp radial cho nhà máy sản xuất cũ từ 25 năm qua tại bang Satana).

Hãng Hankook: 250 triệu USD.

* 100 triệu USD tại Trung Quốc(tại Jixaing và Jiangsu vào năm 2004).

* 150 triệu USD tại Trung Quốc(giai đoạn 2 từ năm 2004-2010).

Hãng Sumitomo Rubber Industries:đầu tư 62 triệu USD.

* 62 triệu USD tại Trung Quốc (lập nhà máy sản xuất lốp radial góp vốn với hãng Hwea Fong Rubber Ind.Co.Ltd Đài Loan dự định bắt đầu vào tháng 4/2004).

Nói chung, hầu như có 1/3 vốn đầu tư của các nhà sản xuất lốp lớn tập trung vào Trung Quốc với tổng số vốn 500 triệu USD.

3.3. Xu hướng công nghệ sản xuất lốp radial hiện tại

Các xu hướng công nghệ sản xuất lốp mới đang ngày càng phát triển nhằm mục đích cho ra đời sản phẩm rẻ hơn hoặc có chất lượng cao hơn, nhưng mục tiêu lớn hơn cả ở đây là tạo ra các sản phẩm mới. Như đã biết, cho tới nay chưa có các loại sản phẩm lốp mới nào có thể thật sự thay thế các loại lốp truyền thống. Loại lốp chống bẹp (run-flat) có thể chạy xe trong thời gian nhất định với lốp bị xịt mà không cần bơm hơi là loại duy nhất được coi là lốp kiểu mới. Kiểu lốp này hiện đã được hãng BMW Mini Mỹ sản xuất. Xem ra hãng Daimler - Chrysler Mỹ cũng đang quan tâm tới nó. Kiểu lốp mới này là một cải tiến đối với các loại xe sang trọng, hơn nữa còn góp phần làm giảm trọng lượng và chi phí sản xuất xe.

Hiện nay không chỉ các hãng lớn quan tâm tới việc đưa ra công nghệ sản xuất lốp mới, mà cả các hãng nhỏ cũng đang rất quan tâm. Dưới đây là 4 công nghệ sản xuất lốp mới với các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm mà các hãng sản xuất toàn cầu có thể mua quyền sở hữu.

- Công nghệ của hãng Goodyear:

Tên hệ thống công nghệ của hãng là "Impact"

Hiệu quả:    

Làm tăng 135% công suất

Giảm 70% thời gian chu trình

Giảm 15% chi phí nguyên liệu

Giảm 35% chi phí lao động

- Công nghệ hãng Michelin:

Tên hệ thống công nghệ: Michelin 3 CM (tạo hỗn hợp nguội liên tục)

Giảm 85% thời gian sản xuất

Diện tích xưởng chiếm ít hơn 90%

Đầu tư giảm 50%

Tiêu hao năng lượng giảm 40%

Chi phí lao động giảm 35%

- Công nghệ hãng Bridgestone:

Tên công nghệ: Tochigi und ACTAS

Cho xuất xưởng 2500 lốp /ngày chỉ với dưới 10 người điều khiển.

Đầu tư một nhà máy mới cần 20 triệu USD có thể sản xuất ra 60 loại lốp xe khác nhau.

- Công nghệ Pirelli:

Tên công nghệ: MIRS - Hệ thống người máy điều khiển liên hoàn

Chi phí đầu tư thấp hơn 15%

Giảm diện tích sản xuất 80%

Năng suất mỗi máy tăng 23%

Năng suất mỗi lao động tăng 25%

Chi phí sản xuất giảm 25%

Giảm thời gian sản xuất/lốp xuống 72 phút

Nhìn chung lợi ích của việc áp dụng công nghệ mới là:

* Giảm được nguyên liệu thiết yếu

* Giảm được công lao động

* Chỉ cần các xưởng nhỏ gọn hơn nên dễ di động

* Các hệ thống sản xuất đáp ứng kịp thời với chi phí thấp.

3.4. Các công ty sản xuất lốp hàng đầu thế giới và tình hình sản xuất lốp radial

Trong vòng 20 năm gần đây để đáp ứng yêu cầu phát triển thực tế, xu hướng hợp nhất đã diễn ra mạnh mẽ ở một số nhà sản xuất lốp. Thị trường thế giới đã có 5 trong số 10 công ty sản xuất lốp lớn nhất từ năm 1981 đã bị thâu tóm bởi các công ty cạnh tranh. Xu hướng hợp nhất và củng cố này vẫn đang tiếp tục diễn ra mặc dù kém mạnh mẽ hơn trước, các công ty nhỏ hơn đang hình thành liên minh hoặc đang bán đứt cơ sở cho các công ty cạnh tranh lớn hơn. Kết quả là cho tới nay ba công ty lớn nhất toàn cầu Bridgestone (cơ sở gốc tại Nhật Bản), Goodyear (cơ sở gốc tại Mỹ) và Michelin (cơ sở gốc tại Pháp) đang chiếm lĩnh tới 60% thị phần lốp toàn cầu. Đây là các công ty đa quốc gia thật sự với hệ thống cơ sở sản xuất và mạng lưới kinh doanh rộng khắp thế giới. Tám công ty đa quốc gia cạnh tranh lớn khác gồm có Continental AG(gốc Đức) Cooper Tire (gốc Mỹ), Pirelli (Italia), Toyo & Yokohama (Nhật Bản), Kumho & Hankook (Hàn Quốc), Sumitomo (Nhật Bản) và các nhà sản xuất địa phương khác (tổng số 11 công ty lớn).

Mặc dù các công ty kinh doanh lốp lớn nhất có vòng quay vốn hơn 10 tỷ USD/ năm về nhiều mặt hàng nhưng họ vẫn duy trì được vai trò là các nhà chuyên sản xuất lốp kỳ cựu. Hầu hết doanh số của Michelin thu được là nhờ sản xuất lốp xe, trong khi con số này ở hai hãng Bridgestone và Goodyear là hơn 80%. Nhiều công ty nhỏ hơn cũng đang nỗ lực tập trung vào sản xuất và kinh doanh lốp. Các công ty cỡ vừa lại đang thực hiện chính sách đa dạng hóa ngành sản xuất của mình. Ví dụ Công ty Pirelli(Italia) luôn quan tâm tới vấn đề sản xuất cáp. Công ty Continental (Đức) hiện đã mua quyền sở hữu sản xuất và kinh doanh lớn các loại phanh ô tô, còn Công ty Cooper (Mỹ) cũng đang đa dạng hóa mặt hàng của mình bằng hình thức mua nhà máy sản xuất phụ kiện ô tô. Dưới đây là giới thiệu sơ lược về các hãng sản xuất lốp ô tô hàng đầu thế giới.

3.4.1. Hãng Bridgestone Nhật Bản

Tập đoàn đa quốc gia Bridgestone có trụ sở đặt tại Tokyo (Nhật Bản) là một trong các hãng sản xuất lốp hàng đầu thế giới với dòng sản phẩm lốp ổn định, đóng góp tới 79% toàn bộ doanh số của hãng trên toàn cầu (công ty còn sản xuất hàng loạt sản phẩm đa dạng, từ cao su công nghiệp tới hóa chất, đồ phục vụ thể thao và các loại hàng khác). Các sản phẩm của Bridgestone hiện có mặt trên 150 nước và khu vực. Bridgestone Europe NV/SA có trụ sở ở Brussels(Bỉ) là chi nhánh chính của hãng, có nhiệm vụ phát triển và sản xuất các loại lốp chất lượng hàng đầu, cung cấp cho toàn châu âu (hiện có tới 16 công ty chi nhánh cùng với các kênh phân phối khắp châu âu và có các sản phẩm xuất khẩu ra ngoài châu âu, kể cả về Nhật Bản).

Doanh số về lốp của hãng đạt mức kỷ lục vào năm 1998 là 2.236,7 tỷ yên (17,1 tỷ USD). Trong 10 năm gần đây thị phần toàn cầu của hãng này tăng lên không ngừng, gần đạt được định mức tăng trưởng đề ra là 20%.

Liên doanh ba bên giữa các công ty Goodyear Tire, Rubbey Co và Sumitomo Rubber Industries Ltd đã có sức cạnh tranh mạnh hơn đối với Bridgestone. Tuy nhiên, Bridgestone hiện vẫn giữ được vị trí dẫn đầu trong ngành sản xuất lốp thế giới.

Một hình thức tăng trưởng mà hãng đang áp dụng là tham gia vào các thị trường mới nổi, ví dụ như tại Ấn Độ, và từ năm 2000 tại Ba Lan và Nga.

Từ năm năm qua, Bridgestone đã giúp các công ty con tại Nhật Bản nâng cao năng suất để nâng doanh số lên khoảng 50%. Hãng cũng đã nâng năng suất sản xuất lốp tại Bắc Mỹ, châu âu và những nơi khác lên nhiều lần. Nhiệm vụ hiện nay của hãng vẫn là tìm cách tăng năng suất lên hơn nữa trên cơ sở tự động hóa để thông qua đó, tăng lợi nhuận. Hiện nay, ưu thế về năng suất đang thuộc về các hệ thống sản xuất lắp đặt mới ở Ailen và Nam Carolina (Mỹ).

Từ cuối năm 2003, Bridgestone thông báo sẽ mở rộng sản xuất các loại lốp radial dành riêng cho xe tải và xe bus tại ba nhà máy ở Nhật Bản và một nhà máy ở Thái Lan. Việc mở rộng công suất này sẽ giúp cho tập đoàn này tăng trưởng liên tục, đáp ứng nhu cầu sử dụng lốp xe tải và xe bus toàn cầu.

Tại Nhật Bản, Bridgestone sẽ tiến hành mở rộng sản xuất tại các cơ sở ở Amagi, Tochigi và Tokyo, nâng tổng công suất lên 1300 lốp/ ngày. Bridgestone sẽ đầu tư khoảng 2 tỷ yên cho dự án mở rộng, dự kiến hoàn thiện và đưa vào sản xuất vào cuối năm 2004.

Tại Thái Lan, công ty chi nhánh của Bridgestone là Bridgestone Tire Manufacturing (Thailand) Co. Ltd đã tiến hành đầu tư để nâng gấp đôi công suất nhà máy tại Chonburi. Dự án mở rộng nhà máy Chonburi khởi công từ tháng 2/2004, dự kiến đưa vào sản xuất từ nửa năm sau 2004 với công suất ban đầu là 2500 lốp/ ngày và sẽ tăng gấp đôi(là 5000 lốp/ ngày) vào năm 2006. Tổng chi phí đầu tư ban đầu dự kiến khoảng 7 tỷ yên và sẽ tăng lên 24 tỷ yên vào giai đoạn sau.

Các dự án mở rộng sản xuất được thông báo ở đây nằm trong hàng loạt chương trình mở rộng sản xuất các loại lốp radial toàn cầu của tập đoàn này. Tổng chi phí dành cho chương trình mở rộng sản xuất lốp toàn cầu của Tập đoàn Bridgestone từ nay tới cuối năm 2006 là vào khoảng 90 tỷ yên.

Riêng đối với lốp radial dành cho xe ô tô nói chung, việc đầu tư của tập đoàn tập trung vào đáp ứng nhu cầu thay đổi về quy cách như độ bền, kích cỡ của lốp sử dụng tại Bắc Mỹ, châu âu và Nhật Bản cũng như đáp ứng nhu cầu lốp tiêu chuẩn cao đang tăng lên tại châu Á, Trung Đông và châu Phi.

Ngoài mở rộng sản xuất tại nhà máy Chonburi (Thái Lan), tập đoàn Bridgestone còn đang vận hành hai nhà máy sản xuất lốp radial khác tại Thái Lan là nhà máy ở Rangsit và Nong Khac thông qua chi nhánh khác của công ty (Thai Bridgestone Co. Ltd). Nhà máy mở rộng tại Chonburi sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật tối đa từ hai cơ sở sản xuất này. ưu thế của việc mở nhà máy sản xuất lốp ở Thái Lan là tận dụng được nguồn nguyên liệu cao su tại chỗ và nguồn lao động kỹ thuật cao cũng như môi trường kinh doanh thuận lợi tại đây.

Tập đoàn Bridgestone hiện đang sản xuất lốp ở 23 quốc gia, nhà máy tại Chonburi sẽ là nhà máy thứ 46 của tập đoàn. Tập đoàn đã có 13 nhà máy sản xuất lốp radial dành cho xe tải và xe bus (kể cả 3 nhà máy ở Nhật Bản nói trên) đặt ở các nơi như Mỹ, Trung Quốc và các nước khác. Nhà máy tại Chonburi là nhà máy thứ 14 sản xuất lốp radial cho xe tải và xe bus, đồng thời cũng là nhà máy thứ 14 chỉ sản xuất mỗi loại lốp này phục vụ xuất khẩu. Bridgestone đang rất chú trọng xây dựng mạng lưới cung cấp lốp ô tô một cách linh hoạt để phục vụ kịp thời nhu cầu toàn cầu.

Việc đầu tư thêm nhà máy sản xuất lốp thứ 3 ở Trung Quốc đã được tập đoàn Bridgestone thông báo cách đây 2 năm. Đây là nhà máy sản xuất lốp radial cho ô tô lớn thứ 3 công suất 8.000 lốp/ ngày với tổng chi phí lên tới 99 triệu USD được xây dựng tại huyện Vô Tích tỉnh Giang Tô, nhà máy dự định bắt đầu hoạt động vào tháng 9/2004. Sản phẩm lốp sản xuất tại đây chủ yếu để phục vụ xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu tại Trung Quốc, bổ sung công suất cho hai nhà máy sản xuất lốp ô tô khác của hãng là nhà máy tại Thiên Tân và nhà máy sản xuất lốp xe tải và xe bus tại Thẩm Dương.

Do số người sở hữu xe riêng ngày càng tăng tại Trung Quốc gần đây nên nhu cầu sử dụng lốp xe ô tô radial tại đây đang tăng đột biến. Việc đáp ứng nhu cầu về lốp tăng ở Trung Quốc là một phần trong trào lưu tăng trưởng trên thị trường lốp ôtô toàn cầu. Quyết định của Bridgestone xây dựng thêm nhà máy ở Trung Quốc và là để theo kịp trào lưu này đồng thời là một động thái tích cực phản ứng lại với việc hãng cơ sở Firestone chuyên cung cấp lốp xe ở Mỹ của họ bị hãng xe Ford kiện về vụ 271 người chết và hơn 800 người bị thương do lốp gây ra làm hãng này phải hủy hàng triệu lốp và chịu thất thoát 1,68 tỷ USD vào năm 2001. Động thái này cũng đồng thời là phản ứng của hãng với các hãng cạnh tranh như Michelin, Goodyear Tire & Rubber Co.

Nhà máy thứ 3 ở Trung Quốc này là nhà máy thứ 47 hãng Bridgestone xây dựng ở nước ngoài.

Kết quả củng cố hoạt động và xuất khẩu của Bridgestone ở Mỹ và châu Áđã giúp cho hãng này đạt được mức lãi ròng là 161% vào năm 2002. Chi nhánh của Bridgestone tại Mỹ có cơ sở sản xuất đặt tại Madhya Pradesk Ấn Độ đã liên doanh với công ty chuyên sản xuất muội than Philip ở Carbon Black Ltd (PCBL) để phát triển cơ sở chung tại Vadodara bang Gujarat. Công ty tại Mỹ sẽ đầu tư bước đầu cho công ty liên doanh 430 triệu rupi, sau nâng lên 750 triệu rupi. Nhờ hoạt động mở rộng này, công suất muội than của nhà máy sẽ tăng từ 20.000 tấn/ năm hiện tại lên 90.000 tấn/ năm vào năm 2005.

Bridgestone cũng là khách hàng lớn mua muội than của Ấn Độ để phục vụ nhu cầu tại Nhật Bản và nước ngoài để sản xuất lốp radial.

Khi các hoạt động sản xuất và kinh doanh tại Mỹ khá ổn định, Bridgestone đã xoay sang củng cố vị thế của họ ở châu âu và nhiều nơi khác nhằm theo kịp nhu cầu đang tăng mạnh cả ở Mỹ, châu âu và châu Á. Công ty chi nhánh của hãng tại châu âu (Bridgestone/ Firestone Europe S.A) đã thực hiện chương trình nâng cấp và mở rộng sản xuất, đồng thời củng cố vị trí tài chính. Nhà máy Poznan của công ty đặt tại Ba Lan sẽ tăng gấp đôi công suất lốp chất lượng cao từ 10.000 lốp/ ngày hiện nay lên 23.000 lốp/ ngày vào cuối năm 2006.

Bridgestone cũng sẽ mở rộng sản xuất lốp radial cho xe tải và xe bus, tăng công suất cho nhà máy đặt tại Bilbao(Tây Ban Nha) từ 3.500 bộ lốp/ ngày hiện nay lên 4600 bộ lốp/ ngày vào cuối năm 2005.

Số vốn Bridgestone hỗ trợ cho chi nhánh châu âu của hãng hiện nay đã lên 400 triệu euro, hãng chi nhánh tại châu âu đã được đổi tên thành Bridgestone Europe S.A từ tháng 1/2003 (hãng chi nhánh tại Mỹ cũng được đổi tên thành Bridgestone American Holding Inc).

Bridgestone cũng chú trọng đầu tư mở rộng công suất lốp và các sản phẩm cao su khác tại Nam Phi. Để mở rộng công suất nhà máy sản xuất lốp Brits tại vùng Tây Bắc Nam Phi, Bridgestone đã đầu tư vào đây khoảng 700 triệu rand trong vòng 5 năm (khoản đầu tư mới này đã đưa tổng số đầu tư của hãng tại Nam Phi lên tới 1,5 tỷ rand). Nhà máy Brits chuyên sản xuất lốp ô tô radial bố thép cho các loại xe từ nhẹ đến tải nặng; cung cấp thị trường nội địa. Thực tế trong 2 năm, đầu tư 210 triệu rand để cải tạo mới vừa qua của hãng đã sinh lợi, khoản đầu tư gần 500 triệu rand trong 3 năm tiếp theo chắc chắn sẽ mang về lợi ích lớn hơn. Chi nhánh Hãng Bridgestone tại Nam Phi có tên gọi mới là Bridgestone Firestone South Africa.

Công trình xây dựng mở rộng nhà máy Brits dự kiến hoàn thiện vào tháng 4/2006 và đi vào sản xuất tháng 6/2006.

Lốp chống bẹp được sản xuất tại đây sẽ cung cấp cho thị trường địa phương và trang bị cho các loại xe lắp ráp tại địa phương để xuất khẩu đi các nước khác.

Công suất của nhà máy sau khi hoàn thiện mở rộng vào năm 2006 sẽ tăng lên 26% so với công suất đạt được năm 2003. Nhà máy này cũng là một trong 3 nhà máy duy nhất của Bridgestone trên thế giới sẽ đưa ra công nghệ mới để sản xuất lốp chống bẹp (run - flat tyres) (hai nhà máy khác của hãng thì một đặt ở Nhật Bản và một đặt ở Ba Lan). Dự tính vào năm 2006, sẽ có thêm hai nhà máy nữa sản xuất mặt hàng này được đầu tư tại Nhật Bản.

Bridgestone còn là hãng sản xuất lốp xe phục vụ phương tiện xe cộ dùng trong ngành khai thác hầm mỏ. Chi nhánh hãng tại ôxtrâylia, có tên gọi là Bridgestone Earthmover Tyes Pty Ltd (BSEM), được thành lập từ năm 1981, là hãng hàng đầu cung cấp lốp phục vụ ngành khai mỏ ở toàn ôxtrâylia.

BSEM không chỉ cung cấp lốp xe(bias và radial) mà còn cung cấp hàng loạt sản phẩm phụ kiện khác cho công nghiệp ô tô như săm, vành, van, phanh v.v...

3.4.2. Hãng sản xuất lốp Yokohama Rubber Co Ltd Nhật Bản (Đại bản doanh tại Minato ku Nhật Bản)

Công ty Yokohama là công ty chuyên sản xuất và kinh doanh lốp xe. Trong suốt nhiều năm qua công ty đã theo đuổi 3 chính sách chính. Thứ nhất là khuyếch trương thương hiệu - nhà cung cấp lốp xe hơi siêu hạng "Yokohama" với sự áp dụng công nghệ tiên tiến. Thứ hai là phát triển sản phẩm lốp xe tải và xe bus mới, chất lượng ngang tầm thế giới. Thứ ba là phát triển đa quốc gia và tập trung vào mở rộng xuất khẩu, đồng thời thiết lập mạng lưới sản xuất tại các nước châu Á.

Chiến lược mới mà công ty áp dụng suốt 10 năm nay là chiến lược phát triển kinh doanh lốp kết hợp với kinh doanh đa dạng các mặt hàng khác và đồng thời tiến hành các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R - D).

Nhóm kinh doanh đa dạng mặt hàng đang cố gắng thực hiện mục tiêu trở thành nhóm đóng góp sự tăng trưởng chính cho Công ty. Một trong các mục đích của nhóm này là phải tăng tỷ lệ doanh số mặt hàng mới được sản xuất bằng công nghệ cao lên 50% (phát triển để đưa ra các sản phẩm mới). Nhằm đạt được mục đích này, Công ty đã phải lập kế hoạch mở rộng phạm vi sản phẩm nhiều hơn nữa, đặc biệt là kế hoạch dựa vào "chiến thuật vươn xa" để mở rộng và củng cố các hoạt động kinh doanh vốn đã có thị phần đứng thứ nhất hoặc thứ nhì thế giới. Mục tiêu chiến lược kinh doanh chủ yếu khác nữa của Công ty là phát triển ra nước ngoài, xâm nhập vào các khu vực thị trường chủ chốt như Trung Quốc và Bắc Mỹ.

Trong chiến lược R & D, công ty đã chú trọng phát triển các dự án dài hơi, tập trung hỗ trợ phát triển kinh doanh bằng chính các sản phẩm hàng đầu có được từ thành tựu công nghệ mới thực hiện trong các dự án.

Dưới khẩu hiệu "hoạt động sản xuất ngày càng hoàn hảo, an toàn và thân môi trường hơn" Công ty đang cố gắng nâng cao năng lực R & D tìm cách áp dụng công nghệ tiên tiến vào mọi khâu sản xuất.

Mục tiêu tài chính của Yokohama Rubber cho tới năm 2005 là đạt được doanh số 460 tỷ yên, trong đó có 35 tỷ yên là lợi nhuận sản xuất thu được từ kết quả củng cố nói trên. So với năm 2002, con số này cao hơn 15% về doanh số và 52,2% về lợi nhuận tương ứng.

Doanh số dự định của Công ty trong năm tài chính 2004 là 400 tỷ yên, giảm so với năm 2003 là 0,1% và lợi nhuận đạt 10 tỷ yên, giảm 1,4%.

Mặc dù trong giai đoạn này, nền kinh tế Nhật Bản có khó khăn song Yokohama vẫn giữ được đà tăng trưởng, liên tục cải tiến sản phẩm và thực hiện tốt chính sách toàn cầu hóa.

Riêng doanh số về lốp tăng 1%, đạt 286,987 tỷ yên (doanh số thu được từ lốp chiếm 71,7% tổng doanh số). Công ty theo đuổi biện pháp marketing tích cực các loại lốp, đáp ứng thị trưòng sản xuất ô tô trong nước đang tăng mạnh (thị trường OE).

Bước vào năm tài chính 2004 (01/4/2003 - 31/3/2004) Yokohama tuyên bố sẽ củng cố kết quả kinh doanh hơi bị giảm sút 6 tháng đầu năm nói trên bằng các biện pháp tăng cường xuất khẩu lốp, đặc biệt vào các thị trường châu âu, châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời củng cố và mở rộng đa dạng hóa các mặt hàng khác từ sản phẩm cao su nói chung.

Trong lĩnh vực hợp tác và đầu tư, từ cuối năm 2003 Yokohama đã thỏa thuận hợp tác cùng Bộ đầu tư Thái Lan (Thai board of investment - BOI) mở một công ty chi nhánh sản xuất lốp radial dành cho xe tải và xe bus tại Thai Lan. Theo kế hoạch của Yokohama, công ty mới ra đời này sẽ bắt đầu hoạt động từ 1/2004 với dự án xây dựng nhà máy sản xuất lốp radial công suất 300.000 lốp/ ngày, dự kiến đi vào sản xuất giai đoạn I, bắt đầu từ 4/2005. Nhà máy sẽ được nâng công suất tăng gấp 2 là 600.000 lốp/ ngày vào giai đoạn 2 tiếp sau đó. Dự kiến đầu tư cho giai đoạn 1 của nhà máy là 5,5 tỷ yên.

Sản phẩm lốp radial xe tải/ bus cao cấp của hãng liên doanh mới này sẽ được cung cấp cho thị trường nước ngoài, nhất là loại lốp 22,5 inch đang có nhu cầu đặc biệt lớn toàn cầu. Nhà máy mới được đặt tại Amata, một tỉnh nằm ở phía nam Băng Cốc. Công ty tại Thái Lan có tên gọi: Yokohama Tire Manufacturing Co. Ltd có số vốn hoạt động 1,5 tỷ yên, trong đó Công ty Yokohama đóng góp 95% và Công ty T Siam Comercial Co. Ltd Thái lan góp 5%.

Sản phẩm lốp radial sản xuất tại Thái Lan sẽ bổ sung thêm cho sản phẩm mà Yokohama đang sản xuất tại hai nhà máy Mie Plant Nhật Bản và GTY Tire Company tại Mỹ. Nhà máy ở Thái Lan là cơ sở sản xuất lốp radial xe tải/ bus đầu tiên của hãng này tại châu Á.

Để tăng cường sản xuất hơn nữa, Yokohama đã vay vốn ở Công ty liên doanh Hangzhou Yokohama Tire Co. Ltd (Trung Quốc) đang ở mức từ 45% lên 80% kể từ 1/4/2002.

Kết quả là mỗi bên cùng tham gia liên doanh YHI Holdings Pte. Ltd và Hangzhou Rubber Co hiện đã có 10% trong tổng số vốn 12 triệu USD (YHI Holding Pte Ltd là công ty ở Singapore đóng vai trò nhà phân phối sản phẩm Yokohama, còn Hangzhou Rubber Co là một trong các nhà sản xuất lốp lớn nhất của Yokohama đặt tại thành phố Hangzhou (Hàng Châu - Trung Quốc).

Công ty liên doanh này được thành lập từ 12/2001 để đáp ứng nhu cầu tăng sản xuất và tiêu thụ lốp radial thương hiệu Yokohama tại Trung Quốc. Công ty liên doanh sẽ chia hoạt động thành 2 giai đoạn: giai đoạn một là đưa nhà máy mới xây dựng, công suất 750.000 lốp/ năm, vào sản xuất ổn định từ 5/2005; giai đoạn hai là giai đoạn nâng công suất nhà máy lên 1.500.000 lốp/ năm.

Một vài chi tiết về liên doanh ba bên và nhà máy sản xuất:

- Tổng số vốn: 12 triệu USD trong giai đoạn đầu.

- Cổ phần đóng góp:           Yokohama Rubber          80%

                                        YHI Holding pte              10%

                                        Hangzhou Rubber           10%

- Ban điều hành:                9 người (7 người của Yokohama)

                                        YHI Holding 1 người

                                        Hangzhou 1 người

- Địa điểm:                       tại khu vực phát triển kinh tế và kỹ thuật thuộc hai tỉnh Hàng Châu và tỉnh Chấn Giang, Trung Quốc.

- Ngành kinh doanh chính: Sản xuất và kinh doanh lốp radial nhãn hiệu Yokohama cho các loại xe.

- Số nhân công:                300 người trong giai đoạn đầu.

- Công suất nhà máy:        750.000 lốp/ năm giai đoạn 1 từ 5/2003; 1.500.000 lốp/ năm giai đoạn 2 từ năm 2006.

- Tổng vốn đầu tư:            30 triệu USD/ giai đoạn 1

                                       30 triệu USD/ giai đoạn 2.

Hợp tác sản xuất và kinh doanh với Bridgestone (Nhật Bản) và Continental AG (Đức):

Kể từ tháng 9/2002, Yokohama Rubber Company Ltd đã tham gia liên doanh hợp tác sản xuất lốp chống bẹp theo công nghệ mới với hai công ty trên.

Trong lĩnh vực sản xuất lốp chống bẹp, kết quả hợp tác từ lâu giữa hai công ty Bridgestone và Continental AG đã cho ra đời 2 hệ thống sản xuất lốp chống bẹp hoàn hảo: một hệ thống được gọi là lốp chống bẹp tự nâng (SSR) được gia cố sườn lốp, giúp tạo nguyên dáng lốp trong trường hợp bẹp hơi, phù hợp với các loại xe thể thao. Hệ thống kia được gọi là hệ thống vành nâng, được trang bị vành kim loại nhẹ nằm ngay trên bánh xe. Trong trường hợp lốp bị bẹp hơi, vành nâng sẽ giữ cho lốp giữ được nguyên dáng. Vành nâng gắn trên bánh xe bình thường nhờ bộ phận treo (hệ thống này là công nghệ của riêng Continental, dự kiến đưa vào sản xuất vào cuối 2002). Hệ thống nói trên sẽ cho ra đời các loại lốp phù hợp với các loại xe cộ kể cả xe thể thao.

Ngoài ra, Yokohama đã liên doanh riêng 50/50 với Continental AG (Đức) để marketing các sản phẩm lốp sản xuất ở Nhật Bản và Hàn Quốc đồng thời phát triển hợp tác kỹ thuật. Theo thỏa thuận liên doanh, Yokohama sẽ bán lốp Continental tại thị trường lốp thay thế Nhật Bản. Hai công ty cam kết hợp tác chặt chẽ trong vấn đề sản xuất lốp phục vụ khu vực NAFTA, sát cánh bên nhau để tăng thế cạnh tranh trên toàn cầu và cùng chia sẻ trách nhiệm, quyền lợi trong lĩnh vực sở hữu công nghệ.

Sự tham gia hợp tác của Yokohama vào lĩnh vực sản xuất lốp chống bẹp theo công nghệ nâng vành sẽ góp phần củng cố vị thế toàn cầu cho cả 3 công ty (Yokohama, Continential và Bridges tone), nhất là đối với Yokohama vì công ty này cũng được quyền sở hữu công nghệ nói trên.

Trong quá trình phát triển mạnh mẽ của Yokohama phải kể đến vai trò hoạt động của công ty vệ tinh có nhiệm vụ phân phối các sản phẩm lốp của hãng. Đây là Công ty Yew Huat Tire Co (YHI International) Singapore được thành lập từ năm 1974. Việc hợp tác với Yokohama 30 năm qua đã giúp YHI có vị trí tài chính và môi trường hoạt động rộng khắp châu Á. Hiện tại YHI là đại diện của Yokohama ở 8 quốc gia trong khu vực. Với cổ phần 10% tham gia trong nhà máy sản xuất lốp radial của liên doanh ba bên đặt tại Hàng Châu (Trung Quốc), YHI cũng đang trở thành nhà sản xuất lốp. Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của thị trường ô tô ở Trung Quốc và môi trường tập trung sản xuất toàn cầu đã làm cho Trung Quốc trở thành mỏ vàng thực sự đối với sự tăng trưởng của YHI.

Năm 2002, YHI đã bán tại Trung Quốc được 240.000 lốp Yokohama, năm 2003 con số này đã tăng gần gấp đôi. Năm 2004, Yokohama đặt kế hoạch sẽ sản xuất và cung cấp cho thị trường Trung Quốc số lượng lốp radial (700.000 chiếc). Để chuẩn bị cho việc phân phối thành công, YHI đã mở rộng các mạng lưới bán sản phẩm tại Trung Quốc từ 170 lên 250 cơ sở ngay từ cuối năm 2003.

YHI đang đặt kế hoạch mở nhà máy sản xuất lốp cung cấp cho thị trường AFTA các nước ASEAN, có thể nhà máy sản xuất sẽ được đặt tại Thái Lan hoặc Malaixia (nơi có thể thuận lợi nhất). YHI cũng đang tăng cường mạng lưới bán lẻ ở Malaixia từ 400 lên 500 cơ sở. Hiện tại, ASEAN vẫn còn là thị trường chính của YHI, đóng góp tới 50% doanh số cho công ty. Tuy nhiên trong vài năm tới, vùng Đông bắc châu Á (Bắc Trung Quốc) sẽ trở thành thị trường quan trọng nhất đối với YHI.

3.4.3. Hãng sản xuất lốp Sumitomo Rubber Industries Ltd (Đại bản doanh tại Kobe - Nhật Bản)

Sumitomo Rubber Industries Ltd là nhà sản xuất lốp lớn của Nhật Bản, từng đứng thứ hai sau Bridgestone. Lốp mang thương hiệu "Dunlop" trên thị trường là của Sumitomo. Trong mối liên minh với Công ty Goodyear Tire & Rubber của Mỹ, thì Sumitomo là nhà sản xuất lốp nhãn hiệu Goodyear tại Nhật Bản, trong khi Goodyear lại sản xuất lốp nhãn hiệu Dunlop tại Bắc Mỹ và Châu âu. Ngoài lốp, Sumitomo còn sản còn sản xuất nhiều mặt hàng khác từ cao su như: golf, tenis, băng in, trang thiết bị tự động cho văn phòng, găng tay, v.v... Trong năm tài chính 2001, tổng thu nhập về lốp chiếm 73%, sản phẩm thể thao 15%, sản phẩm công nghiệp (ghế ô tô, đệm) chiếm 12%.

Lốp mang nhãn hiệu "Sumitomo" được sản xuất tại Nhật Bản (tại hai nhà máy có tên Nagoya & Shirakawa). Bắt đầu sản xuất chiếc lốp đầu tiên ở Kobe Nhật Bản từ năm 1909, cho tới nay Sumitomo Rubber Industries đã sản xuất và đưa ra thị trường hàng loạt sản phẩm với tên gọi Sumitomo, Dunlop, Falken và Goodyear.

Sản phẩm lốp của Sumitomo có tiếng là bền và an toàn. Sumitomo sản xuất các thể loại lốp từ lốp radial dành cho xe tải lớn, nhỏ, lốp ô tô con các loại tới lốp dùng trong ngành công nghiệp. Công nghệ sản xuất lốp radial tiên tiến đã được Sumitomo áp dụng, nhờ thế đã nâng cao hiệu quả sử dụng của lốp; lốp radial của Sumitomo được áp dụng công nghệ tiên tiến ngay từ khâu tạo vật liệu và tạo hình hoa lốp (như sử dụng sợi cacbon siêu nhỏ, tạo 5 lớp gai khống chế độ gây ồn) nên lốp tiện dụng và bền trên các loại đường xá (từ tốt tới cực xấu). Các đặc điểm khác biệt trong thiết kế vân gai trên ta lông làm cho lốp của Sumitomo khác hẳn và bền hơn so với các loại lốp radial của các hãng khác.

Trong các công ty làm nên tập đoàn Sumitomo, phải kể đến công ty sản xuất lốp tại các tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất - Shaheen Tyres East, được thành lập ở Dubai năm 2000. Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng đây là một công ty chuyên sản xuất lốp dẫn đầu và giành được uy tín cao tại khu vực Trung Đông.

3.4.4. Hãng sản xuất lốp Toyo Tire & Rubber Co Ltd Nhật Bản (Đại bản doanh tại Osaka Nhật Bản)

Ra đời từ năm 1945, hoạt động sản xuất kinh doanh của hãng này tập trung chủ yếu vào 4 lĩnh vực: sản xuất kinh doanh các loại lốp, ô tô; cao su và chất dẻo. Ngoài ra hãng còn tham gia vào lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản và dịch vụ viễn thông. Trong năm tài chính 2002, thu nhập từ lốp của hãng đạt 62%, ô tô 20%, cao su chất dẻo 18% còn lại là các lĩnh vực khác. Lốp xe mà hãng sản xuất gồm: lốp xe ca, xe ô tô con, xe bus, xe tải.

Là một trong bốn tập đoàn sản xuất các loại lốp lớn nhất trên toàn cầu, hãng qua nhiều năm hoạt động và đã duy trì mức độ tăng trưỏng đều đặn với những sản phẩm đạt uy tín cao. Sự cải tiến kỹ thuật luôn được hãng đề cao nhưng được tiến hành theo từng bước. Kinh nghiệm mà Toyo sử dụng để thiết kế và phát triển sản phẩm lốp mới, đáp ứng yêu cầu khách hàng, thông thường phải kinh qua các bước sau:

Bước 1- Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn quyết định. Căn cứ vào yêu cầu đáp ứng sản phẩm mới (thông tin được gửi về hãng từ thị trường khắp thế giới. Khối lượng sản phẩm yêu cầu sẽ được cân nhắc trên cơ sở lợi ích kinh tế, thời điểm, nguồn cung cấp và thực tế đáp ứng kỹ thuật, v.v...

Bươc 2- Thiết kế: Khi thiết kế bất kể sản phẩm lốp nào, hãng sẽ lựa chọn dựa vào từng đặc điểm để cho ra được thiết kế hiệu quả tối ưu. Các nhà thiết kế sẽ cân nhắc xu hướng thị trường. Ví dụ: khi thiết kế lốp radial xe tải/ xe bus, đặc điểm lằn gai lốp được tập trung chú ý thiết kế và có đúc rút kinh nghiệm. Ví dụ: lằn gai lốp dạng zig-zag có thể được lựa chọn vì nó phù hợp với các loại lốp xe phải tải nặng, song điều cần chú ý là lốp 4 hay 5 lằn gai thì lốp nào sẽ hiệu quả hơn.

Giai đoạn 3- Sử dụng mô phỏng: nhờ máy tính, lốp thiết kế giả định sẽ được sử dụng mô phỏng để đánh giá yêu cầu đặt ra (từ hơn 10 năm qua hãng này đã sử dụng phần mềm đánh giá các đặc tính kỹ thuật của lốp radial).

Giai đoạn 4- Thử nghiệm: một số lốp sản xuất theo thiết kế mới được chạy thử phạm vi hẹp để xác định kết quả thực tế có phù hợp kết quả máy tính đã đưa ra hay không.

Giai đoạn 5- Thử nghiệm thực địa.

Cho chạy xe để khẳng định lết quả chạy thử phạm vi hẹp.

Giai đoạn 6 - Chạy thực địa

Các lốp xe của Toyo bán tại ôxtrâylia sẽ được chạy thực địa tại điều kiện ôxtrâylia để xem có phù hợp không rồi mới cho bán đại trà tại đây. Các dữ liệu về tỷ lệ tải, tốc độ chạy xe, hiệu quả, nhận xét của người sử dụng, điểm yếu, v.v... sẽ được thu thập và phân tích tại hãng. Yêu cầu chưa đạt sẽ được hãng điều chỉnh tiếp tới khi đạt được yêu cầu.

Chính nhờ chiến lược thực hiện kỹ thuật này mà nhiều năm qua hãng đã cho ra đời các sản phẩm phù hợp yêu cầu khách hàng khắp nơi trên thế giới.

Đáp ứng xu hướng hợp nhất toàn cầu trong lĩnh vực sản xuất lốp, vào tháng 5/2004 vừa qua Toyo và Michelin (Pháp) đã cùng ký thỏa thuận cấp quyền sở hữu công nghệ sản xuất hệ lốp chống bẹp PAX: Michelin cấp giấy phép công nghệ PAX cho phép Toyo sản xuất lốp chông bẹp cho các loại xe ô tô con và xe tải nhẹ để cung cấp cho cả thị trường OE (thị trường lắp ráp ô tô) và thị trường lốp thay thế tại Nhật Bản. Hệ thống PAX này được Michelin phát triển từ năm 1998 đã chứng tỏ an toàn và tiện lợi với các ưu điểm: lốp được tối ưu hóa hoạt động ngay cả khi bị bẹp hơi, vành lốp trở nên bất đối xứng. Vành nâng chống bẹp lốp - PAX cho phép xe còn tiếp tục chạy ít nhất 200 km nữa với tốc độ 80 km/giờ khi không có áp suất.

         Trước đây, Toyo đã từng sản xuất loại lốp xe chống bẹp bằng hệ thống công nghệ gia cố sườn lốp (SSR), nhưng sau khi tiếp xúc công nghệ PAX hãng đã kết luận rằng để có thể cho ra đời sản phẩm lốp chống bẹp có ưu thế cạnh tranh thì sử dụng hệ thống công nghệ PAX với vành nâng chống bẹp mới thật sự là công nghệ thích hợp cho các loại lốp chống bẹp tiêu chuẩn trong tương lai.

Để đáp ứng nhu cầu thị trường, từ tháng 4/2004 Toyo đã quyết định xây dựng nhà máy sản xuất lốp radial cho xe ô tô con và xe tải nhẹ tại Mỹ. Kể từ 5 năm trước, công ty đã nhận được rất nhiều đơn đặt hàng lốp radial từ khắp nơi trên thế giới, nhưng việc đáp ứng các đơn hàng đó đối với hãng rất khó khăn vì công suất trong nước của hãng khó có thể đáp ứng. Để giải bài toán (1/ mở rộng công suất nhà máy ở Nhật Bản rất khó; 2/ nhu cầu lốp lớn nhất toàn cầu lại tập trung ở Mỹ; 3/ phải giảm tới mức tối thiểu rủi ro về dao động tỷ giá ngoại tệ), Toyo đã đưa ra quyết định đầu tư xây thêm nhà máy mới tại Mỹ với tổng số vốn 150 triệu USD. Nhà máy mới sẽ bắt đầu hoạt động vào năm 2005, với công suất 2 triệu lốp radial cho xe tải nhẹ và xe con hàng năm.

Tại khu vực Châu Á, Toyo đã xây dựng một nhà máy sản xuất lốp radial liên doanh với công ty lốp Xiamen Co.Ltd Trung Quốc (có đóng góp cổ phiếu của công ty Maxxi International Co.Ltd tại Tây Ấn của Anh). Nhà máy đặt tại Hạ Môn (Xiamen) Trung quốc sẽ cho ra sản phẩm lốp radial phục vụ xe tải và xe bus bắt đầu sản xuất vào 4/2004.

Trong tổng đầu tư 150 triệu USD của liên doanh thì 130 triệu dành cho giai đoạn đầu. Công suất giai đoạn đầu của nhà máy là 300.000 lốp radial các loại nói trên hàng năm sẽ nâng lên 750.000 vào năm 2006. Giai đoạn đầu tư sau gồm 20 triệu USD sẽ dành phát triển lốp radial xe tải nhẹ.

3.4.5. Hãng sản xuất lốp Goodyear Tire & Rubber Mỹ (Đại bản doanh tại Akron bang Ohio)

Kể từ khi liên minh với Sumitomo Rubber Industrial, Goodyear đã củng cố trở thành tập đoàn sản xuất lốp lớn nhất toàn cầu. Hoạt động sản xuất, thiết kế, phát triển lốp cũng như các sản phẩm cao su và hóa chất của tập đoàn rải khắp 30 nước, tập trung vào 90 cơ sở với số nhân công 88.000 người.

Ra đời từ năm 1898, có thị trường rải khắp 180 nước trên 6 châu lục với doanh số bán ra hàng năm 14 tỷ USD. Thương hiệu lốp Goodyear bên cạnh các thương hiệu Dunlop, Kelly, Lee, Sava và Debica khác của công ty, từ lâu đã là thương hiệu có uy tín nhất trên thị trường.

Các sản phẩm khác của công ty như cao su, polyme đang góp phần cung cấp cho thị trường của các nhà sản xuất ô tô và sản xuất công nghiệp nói chung.

Các đơn vị kinh doanh chiến lược của Goodyear được tổ chức hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu toàn cầu gồm:

- North America Tire - phục vụ thị trường Mỹ, Canada.

- Goodyear - EU (phục vụ châu âu).

- Goodyear Trung âu, Phi châu, Trung Đông (phục vụ Ba Lan, Slovenia, Thổ Nhĩ Kỳ, Marốc, Nam Phi).

- Goodyear - Châu Mỹ la tinh (phục vụ Trung Mỹ, Nam Mỹ).

- Goodyear - Châu Á (phục vụ châu Á, ôxtrâylia, Niuzilân).

Riêng các nhà máy lốp đặt tại châu Á của Goodyear gồm:

Trung Quốc:  Nhà máy sản xuất lốp Đại liên.

Ấn Độ:          Nhà máy lốp Aurangabad Ballabgarh.

Inđônêxia:     Nhà máy sản xuất lốp Bogor

Nhật Bản:      Nhà máy lốp Tatsuno

Malaixia:       Nhà máy lốp Kuala Lumpur

Niuzilân:        Nhà máy Upper Hutt

Philippin:       Nhà máy Las Pinas, Marikina

Đài Loan:       Nhà máy Đài Bắc

Thái Lan:       Nhà máy Băng Cốc

ôxtrâylia:       Nhà máy Footseray; Somerton; Thomastown;

Trong 5 năm gần đây ở cả khu vực châu Átốc độ tăng công suất lốp đã đạt mức trên 60%.

Thương hiệu lốp Goodyear đang ngày càng được biết đến nhiều hơn tại khu vực.

Nhà máy sản xuất lốp trước đây của Philippin - Sime Darby được chuyển sở hữu sang Goodyear đã được nâng công suất gấp đôi và mở thêm thị trường tại nước này và một số khu vực khác ở châu Á. Nhà máy của Goodyear tại Marikina nói trên là nhà máy thứ hai của hãng ở Philippin và là nhà máy thứ 5 ở châu Á.

Liên doanh South Asia Tyres Ltd giữa Goodyear và Công ty Ceat. Ltd (Ấn Độ) là nơi sản xuất lốp radial cho xe ca và xe tải theo công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu thị trường bùng nổ ở Ấn Độ.

Cơ sở sản xuất hiện đại của Goodyear tại Đại liên (Trung Quốc) đang cung cấp các loại lốp radial thương hiệu Goodyear cho thị trường Trung Quốc. Hiện nay mạng lưới phân phối lốp của hãng tại Trung Quốc gồm có 75 cơ sở bán buôn đang có trách nhiệm cung cấp cho 1200 cơ sở bán lẻ.

Goodyear cũng cung cấp lốp vào thị trường Nhật Bản thông qua các nhà máy sản xuất của hãng đặt tại Inđônêxia và Đài Loan (trước đây Nhật Bản nhập khẩu từ Mỹ và châu âu).

Các nhà máy của Goodyear đều đạt chứng chỉ ISO: Nhà máy ở Delhi Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, Manila, Đài Loan, Thái Lan và liên doanh Nhật Bản Nippon Giant.

Kết quả liên minh với Sumitomo Rubber Industries cho ra đời 4 công ty liên doanh chuyên kinh doanh lốp: một đặt ở vùng Bắc Mỹ, hai ở Nhật Bản và một ở châu âu. Liên doanh Bắc Mỹ còn có sự tham gia của Dunlop (thuộc về Sumitomo). Tại châu âu cả Goodyear và Dunlop cùng hoạt động tại Đông âu nhưng đối với riêng Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Slovenia, Goodyear không tham gia. Liên doanh ở Nhật Bản sẽ chịu trách nhiệm cung cấp cho hai thị trường lắp ráp và thị trường lốp thay thế dưới cả hai thương hiệu, trong đó Sumitomo sở hữu 75%. Hai liên doanh tiếp theo, trong đó Goodyear chiếm ưu thế đã được thành lập tại Mỹ (một liên doanh dành cho kinh doanh và một liên doanh dành phát triển công nghệ). Mục tiêu của Goodyear là tìm cách giành quyền kiểm soát thương hiệu Dunlop ở cả châu âu và Bắc Mỹ. Hiện tại liên doanh Goodyear - Đại Liên (Trung Quốc) có tỷ lệ góp vốn 75/25%; Goodyear - Dunlop Bắc Mỹ (Sumitomo Rubber Industries) có tỷ lệ góp vốn 75/25; Goodyear - Dunlop Tires Europe (Sumitomo Rubber Ind) có tỷ lệ 75/25; Goodyear - Nippon Giaut  có tỷ lệ 65/35%; Còn Goodyear - South Pacific Tyres (Pacific Dunlop) có tỷ lệ 50/50.

Goodyear đang phát triển mạnh các hoạt động ở Ấn Độ: kể từ 9/2001 Goodyear India Limited đã khởi đầu chương trình tăng cường sản xuất để nâng công suất lốp radial không săm đáp ứng nhu cầu thị trường tăng nhanh ở khu vực.

Cuộc "cách mạng" về lốp radial không săm được tiến hành từ 6/2001 đã cho ra các loại lốp radial xe con GPS - 2 với GT770 +, G-28 và Eagle NCT-3. Goodyear sản xuất lốp radial không săm dựa trên công nghệ "Trinuum" - công nghệ này cũng cho ra sản phẩm lốp radial thích hợp với các loại xe ô tô con cỡ nhỏ, vừa và loại đắt tiền tại Ấn Độ. Công suất loại lốp này tại nhà máy ở Aurangabad đã được Goodyear đầu tư tăng gấp đôi vào năm 2002.

Lốp radial không săm đã được thế giới sử dụng từ hơn 30 năm, nhưng cho đến nay nó mới được chú trọng và tăng cường thử nghiệm tại châu âu, châu Mỹ và hầu hết các nước châu Á (như Malaixia, Singapore, Thái Lan, Philippines, Pakistan, Srilanka và Bangladesh).

Đa số lốp không bền là do săm (khi săm bị thủng kéo theo hư hại lốp). Công nghệ sản xuất lốp radial không săm "Trinuum" của Goodyear cho ra đời loại lốp có màng cao su mềm lót bên trong lốp để ngăn lọt khí (cao su chống thấm innerline): khi lốp bị đâm thủng, không khí sẽ lọt ra từ từ khác hẳn trường hợp lốp có săm (Trinuum có nghĩa: "Tri" thể hiện năng lực gấp ba, còn "nuum" thể hiện tác dụng liên tục của công nghệ mang lại). Công nghệ Trinuum đã liên kết lực lượng từ ba trung tâm kỹ thuật và phát triển toàn cầu của Goodyear (một ở châu âu, một ở Mỹ và một ở Nhật Bản) để thiết kế cho ra đời loại lốp hoàn hảo này.

Hàng năm Goodyear đầu tư 450 triệu USD cho các cơ sở R & D toàn cầu nhằm tìm kiếm công nghệ  mới, nguyên liệu mới để cải thiện và nâng cao hiệu quả sản phẩm. Đầu tư R & D tại Ấn Độ là một phần trong kế hoạch đầu tư chung của hãng.

3.4.6. Hãng sản xuất lốp Cooper Tire & Rubber Company của Mỹ (Đại bản doanh tại Findlay bang OhiO Mỹ)

Ra đời từ năm 1914, Cooper là một trong số các hãng sản xuất lốp lớn nhất thế giới. Các hoạt động sản xuất và kinh doanh của hãng này tập trung vào phát triển và kinh doanh sản phẩm lốp các loại, chất dẻo, các sản phẩm cao su và vận tải. Hai mảng hoạt động quan trọng nhất của hãng là sản xuất săm lốp ô tô, xe tải, xe máy, và sản xuất các chi tiết khung ô tô và các phụ kiện. Các sản phẩm của 2 bên hỗ trợ cho nhau và được bán cho các nhà lắp ráp ô tô hoàn chỉnh.

Thương hiệu lốp của tập đoàn gồm Cooper, Cooper - Standard, Mastercraft, Avon, v.v...

Tập đoàn đa quốc gia này có phạm vi hoạt động khắp toàn cầu từ Anh, Canada, Mexico, Braxin, Tây Ban Nha đến Pháp, Ba Lan và Đức. Thu nhập về lốp của tập đoàn trong năm 2002 chiếm 53%, còn các sản phẩm phụ tùng ô tô khác 47%.

Cooper có hơn 20.000 nhân công, 52 nhà máy ở 13 nước.

Doanh số hiện tại của hãng đạt mức kỷ lục là 974 triệu USD và thu nhập thuần vào quý I (tới 31/3/2004) tăng 56%. Mức kỷ lục về doanh số tăng 23% so với cùng kỳ năm trước(thu nhập thuần tăng 56% là 24 triệu USD so với 15 triệu USD cùng kỳ năm 2003). Tỷ lệ tăng giá cổ phiếu quý I/2004 là 4 xu Mỹ so với 1 xu Mỹ quý I năm 2003. Xu thế tăng trưởng này còn đang tiếp tục mặc dù bị ảnh hưởng bởi giá nguyên liệu. Riêng doanh số về lốp của Cooper quý I/2004 là 485 triệu USD, tăng 23% so với 396 triệu USD cùng kỳ năm trước. Doanh số thuần các loại lốp bền và siêu bền tăng 47% trong quý I/2004. Doanh số về lốp tải trọng lớn tăng 52% còn lốp xe tải nhẹ tăng 27% so với cùng kỳ năm trước.

Công ty tiếp tục cho vận hành hết công suất, đồng thời tiến hành mở rộng sản xuất tại các nhà máy ở Bắc Mỹ và châu Á để đáp ứng nhu cầu đang tăng mạnh.

Năm 2004 sẽ là một năm rất thành đạt đối với Cooper Tire, mặc dù chi phí nguyên liệu còn tiếp tục dâng cao nhưng đã được chính sách tăng giá sản phẩm lốp của hãng bù đắp lại. Trong các liên doanh mở rộng tại châu Á. Trung Quốc là một trong các đối tác được Cooper Tire chọn. Khẩu hiệu của hãng là "luôn nhìn về phía trước". Chiến lược của công ty luôn là phát triển hơn nữa sản xuất và kinh doanh rộng khắp toàn cầu, nhất là tận dụng cơ hội thị trường và nguyên liệu tại châu Á, Đông âu và các khu vực khác.

Từ đầu năm 2004, hãng tuyên bố tăng vốn đầu tư thiết bị cho 3 trong 4 nhà máy sản xuất lốp của hãng tại Mỹ để tăng tổng công suất lên hơn 2,4 triệu bộ/ năm. Tổng số tiền đầu tư 32,1 triệu USD để mua máy ép lốp mới và bổ sung năng lực sản xuất cho các cơ sở này.

Kể từ tháng 10/2003, hãng đã thỏa thuận cùng hợp tác với nhà máy sản xuất lốp radial xe tải nhỏ và vừa tại Hàng Châu (Trung Quốc). Công ty sản xuất lốp Hangzhou Zhongce Rubber tại Hàng Châu sẽ cung cấp hàng năm 1 triệu lốp radial cho Cooper để phục vụ thị trường Mỹ. Mặt hàng lốp radial do nhà máy Hàng Châu sản xuất sẽ mang nhãn hiệu Cooper, Mastercaft, Dean và Starfire theo đúng quy cách phẩm chất phù hợp thị trường Bắc Mỹ. Vào khoảng quý III/ 2004, các loại lốp này sẽ có mặt tại đây. Khuôn lốp và các thiết bị sản xuất liên quan sẽ được Cooper đưa từ nhà máy sản xuất lốp radial Albani của mình tại Mỹ sang (nhà máy này có công suất 25.000 lốp/ ngày trong đó chỉ có 1.200 là lốp radial xe tải vừa).

Ngay từ tháng 4/2002, giữa Cooper Tire và Pirelli Italia đã có một thỏa thuận liên minh nhằm hỗ trợ tiềm năng cho cả hai bên tăng sức cạnh tranh. Chiến lược của liên minh này là chia xẻ thương hiệu. Kể từ 1/7/2002, Pirelli đã đảm nhận trách nhiệm bán hàng và cung cấp dịch vụ khách hàng cho thương hiệu lốp của Pirelli ở Mỹ. Cooper sẽ tiếp tục sản xuất các mặt hàng được Pirelli lựa chọn để bán ở Mỹ và hỗ trợ quản lý về mặt pháp lý cho Pirelli tại Mỹ. Cả hai hãng sẽ tiếp tục cân nhắc việc tham gia chung cổ phần trong lĩnh vực kỹ thuật và một số lĩnh vực khác. Hiện cả hai hãng đều tuyên bố hài lòng vì sự hợp tác này.

Để nâng cao chất lượng, giảm giá thành và đa dạng hóa mặt hàng lốp, tháng 2/2004 Cooper đã ký hợp đồng với công ty thiết kế lốp Mac Neal - Schiwindler (MSC). Thời gian thực hiện hợp đồng là 18 tháng.

Việc thực hiện kế hoạch "Cooper 21" cải tiến và đổi mới lốp nhờ sự hỗ trợ phần mềm áp dụng kỹ thuật của hãng hàng đầu thế giới MSC nói trên mà Cooper đã rút ngắn được chu trình sản xuất lốp, tăng hiệu quả sử dụng và giảm đáng kể chi phí sản xuất.

3.4.7. Hãng sản xuất lốp Continental AG - Đức (Đại bản doanh tại Hanover Đức)

Thành lập từ năm 1871 với cơ sở ban đầu chuyên sản xuất động cơ, cho đến nay sau 130 năm phát triển và đổi mới Continental AG hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực sản xuất lốp, chất dẻo và các mặt hàng công nghiệp cao su khác. Các loại lốp radial do hãng sản xuất và kinh doanh bao gồm: lốp xe tải, lốp xe con, lốp xe cần trục, lốp xe công nghiệp, máy kéo và lốp phục vụ cho các loại xe chuyên dụng. Trong năm tài chính 2002 doanh số lốp xe con của hãng đạt 33%, lốp xe công nghiệp 16% tổng doanh số.

Continental hiện nay được xếp hạng là nhà sản xuất các loại lốp đứng số 1 ở Đức, thứ 2 tại châu âu và đứng thứ 4 trên thế giới. Trong lĩnh vực kinh doanh lốp xe mùa đông, Continental là hãng đứng hàng đầu ở châu âu.

Nhãn hiệu các mặt hàng lốp và sản phẩm do hãng sản xuất gồm Continental, Uniroyal (châu âu), General Tire, Semperit, Gislaved, Viking, Barum, Mabor và Euzkadi.

Continental hiện có hơn 2000 cơ sở và đại lý độc quyền kinh doanh lốp tại 15 nước, hơn 28 nhà máy và trung tâm và cơ sở thử nghiệm sản xuất lốp xe các loại trên toàn cầu. Năm 2003, Continental đã sản xuất được 100 triệu lốp xe con và 6 triệu lốp xe tải các loại.

Doanh số lốp (tỷ ơrô)

2002

2003

11,4 tỷ

11,5 tỷ

Nhân công (người)

64.379

68.829

Hãng hiện đang tiếp tục củng cố phát triển, ngoài công ty mẹ, phạm vi củng cố bao gồm cả 210 công ty ở Đức và các nước mà Continental AG trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia hơn 20% quyền bỏ phiếu. Trong số 210 công ty này, có 176 công ty đã hoàn thiện giai đoạn củng cố, còn 34 công ty đang tiếp tục. Kể từ 31/12/2003 tổng số các công ty đã tăng thêm so với số trên.

Vào quý I/2004, hãng đã tăng vốn đầu tư cho nhà xưởng, thiết bị, phần mềm so với mặt bằng năm 2003 là 114,4 triệu ơrô. Ngoài việc đầu tư công nghệ mới, hãng đang mở rộng công suất của mình tại các nước có chi phí thấp. Đầu tư chủ yếu tập trung tại Đức, Cộng hòa Séc, Rumani và Mexico. Tổng chi phí đầu tư 3 tháng đầu năm 2004 tăng 3,7%(trong khi cả năm 2003 là 4,4%).

Chi phí R & D trong quý I/2004 là 122,2 triệu ơrô (4,1% doanh số) gần bằng cả năm 2003 (123,2 triệu ơrô - 4,4% doanh số).

Nhờ kết quả củng cố suốt thời gian qua, doanh số lốp xe con quý 1/2004 của hãng tăng 9,9% đạt 339,3 triệu ơrô, tăng so với mức 282,7 triệu ơrô cùng kỳ năm 2003. Riêng về lốp xe ca và xe tải nhẹ: doanh số tăng 6,8% từ 899,7 triệu ơrô quý I/2004 tăng so với mức 919,4 triệu ơrô cùng kỳ năm 2003.

Khối lượng lốp bán cho khối công nghiệp ô tô toàn cầu tăng 12%, doanh số khu vực lốp thay thế ở châu âu tăng 8%, doanh số khu vực NAFTA giảm.

Dự đoán năm 2004, doanh số các mặt hàng và hoạt động sản xuất của hãng sẽ tiếp tục đà phát triển. Lượng ô tô sản xuất ra trong năm 2004 sẽ vẫn ở mức năm 2003, riêng đối với xe tải, sẽ có sự tăng nhẹ ở Tây âu và tăng mạnh ở khu vực NAFTA.

Áp lực về giá tăng, đặc biệt ở Mỹ. Continential dự đoán giá lốp ô tô con và xe tải nhẹ sẽ tăng mạnh vào quý IV/2005.

Hãng sẽ cho ra mắt sản phẩm lốp mới cho xe BMW theo công nghệ SSR (lốp chống bẹp tự nâng - Self Supporting Runflat tire) - Lốp được gia cố bên sườn, cho phép xe tiếp tục đi được hơn 80km khi lốp bị bẹp.

Để mở rộng luồng phân phối sản phẩm, từ đầu năm 2004, hãng đã tham gia vào thị trường Bắc Mỹ, đồng thời mở trung tâm phân phối sản phẩm thứ 2 tại châu âu. Hãng đã mở rộng sản xuất tại Mexico và một nhà máy sản xuất lốp mới đang được xây dựng, bắt đầu cho sản phẩm vào đầu năm 2006. Khi công suất lốp của hãng tăng hết mức vào năm 2006, sẽ có khoảng 3 triệu lốp được cung cấp hàng năm cho thị trường Bắc Mỹ.

Từ tháng 3/2004, một nhà máy sản xuất lốp radial của hãng được xây dựng tại Brazil, bắt đầu sản xuất vào năm 2005.

Hãng cũng đang mở rộng sản xuất tại cơ sở liên doanh với Malaixia (Continental Sime Tyre) để cung cấp cho thị trường Bắc Mỹ. Vào năm 2008 cơ sở này dự kiến sẽ cho ra 7 triệu lốp xe ca và 700.000 lốp xe con hàng năm.

Đi theo xu hướng mở rộng các liên doanh - liên minh là chiến lược của hãng từ nhiều năm qua. Ngay từ năm 1989/1999, hãng đã chủ trương mở rộng vị trí của mình trên thị trường toàn cầu, ví dụ như tiến hành chuyển giao công nghệ lốp với Fate (của Achentina), liên doanh sản xuất và kinh doanh lốp với Matador (của Slovakia), mua lại quyền sử dụng nhà máy sản xuất lốp Carso (của Mexico) và nắm 60% vốn nhà máy sản xuất lốp Gen Tyre tại Nam Phi (hiện mang tên Continental Tyre South Africa).

Năm 2000, nhà máy mới của Continental đặt tại Timosoara (Rumani) sản xuất lốp xe các loại đã đi vào hoạt động.

Năm 2002, Continental và Bridgestone tuyên bố hợp tác sản xuất hệ thống lốp chống bẹp đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Continental và Yokohama cũng ký thỏa thuận cùng hợp tác chặt chẽ hơn trong vấn đề kinh doanh lốp trong tương lai. Một liên doanh 50 : 50 đã được thành lập với mục tiêu tăng cường hoạt động cho các nhà máy sản xuất ô tô ở Nhật Bản.

3.4.8. Hãng sản xuất lốp Kumho Industrial Ltd - Hàn Quốc (Đại bản doanh tại Gwangju Hàn Quốc)

Hoạt động chủ yếu của hãng là sản xuất lốp ô tô, sản phẩm cao su, hóa dầu, thông tin, viễn thông, tài chính, hàng không và dịch vụ vận tải.

Các công ty thành viên Kumho Tire thuộc Kumho Industrial Ltd. bao gồm Kumho Tyre Company Limited Hàn quốc, Kumho Tyre of Australia, Kumho USA, Kumho Tyre Europe, v.v... Kumho Industrial Ltd sản xuất 36.000.000 lốp xe hàng năm tại hai nhà máy ở Kwang Ju(xây dựng năm 1974) và Koksung (xây dựng 1989). Kumho kinh doanh lốp các loại xe ô tô, kể cả xe chất lượng cao, xe thể thao, xe ca, xe bus, tải lớn và nhỏ, xe công nghiệp, nông nghiệp, mỏ và xây dựng.

Kumho chú trọng đầu tư vào R & D và phát triển các sản phẩm mới thân môi trường và ít tiêu tốn nhiên liệu. Hãng đã duy trì được yêu cầu tăng cường đầu tư kỹ thuật đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Kumho là hãng sản xuất lốp đầu tiên cho ra sản phẩm lốp mới tiêu chuẩn sinh thái "xanh sạch" (Green Swan) cả hai lốp KWN 7401 I'zen và công nghệ sản xuất của hãng này đã được đưa trình Bộ sinh thái môi trường Thụy Điển, kiểm nghiệm cấp chứng chỉ vào 11/2002. Để đạt được chứng chỉ Green Swan, Kumho đã phải chứng minh quy trình sản xuất lốp đi từ các nguyên liệu ít gây tác hại môi trường.

Riêng loại lốp KWN 7401 I'zen cũng được chứng minh có thể "chạy sạch" với tiếng ồn giảm tới mức thấp hơn mức cho phép, ma sát thấp, độ bền lốp lại cao và có thể tái sử dụng sau đời thứ nhất.

Các hoạt động sản xuất và kinh doanh của Kumho phát triển rộng trên nhiều khu vực thế giới. Tại Mỹ, Kumho Tire USA đã xây dựng được uy tín tốt, cung cấp cho thị trường tại đây các loại lốp hiệu quả cao, bền với giá phải chăng. Đặc biệt là lốp xe đua của Kumho rất được ưa chuộng tại Mỹ và Canađa.

Năm 1992, Trung tâm kỹ thuật của Kumho tại Akron được giao nhiệm vụ phát triển loại lốp radial cho xe đua và mô tô thể thao. Kumho đã đưa ra các loại lốp V700 Vietoraeer. Năm 1993, loại lốp V700 đã được tham gia vòng đua SCCA và đã giành được chiến thắng đầu tiên, để từ đó trở thành nổi tiếng.

Năm 2001, Kumho đưa ra một loại lốp có sức cạnh tranh mới nhất ECSTA V700 và loại lốp này cũng là loại lốp giành chiến thắng trong các cuộc đua. Vào năm 2004, loại lốp xe đua đời mới nhất của Kumho ra đời - V710. Loại này có đặc điểm kỹ thuật rút kinh nghiệm từ các loại lốp thế hệ 3 cung cấp cho châu âu và châu Á. V710 có viền thép, tạo ra khả năng cua gấp nhanh, để lại vết xe ổn định và rộng nhờ cấu tạo các vân rãnh đặc biệt. Lốp này cũng nhẹ hơn so với 2 loại nói trên.

Tại châu âu và Anh, Kumho được công nhận là nhà cung cấp các loại lốp xe đua và lốp xe cơ giới có uy tín.

Từ đầu năm 2002, Kumho thông báo về thỏa thuận 5 năm với hãng Circuit Park Zandvoort (Hà Lan) trở thành nhà chuyên cung cấp lốp cho xe đua Marlboro Masters công thức 3.

Vào năm 2003, Kumho trở thành nhà chuyên cung cấp lốp xe đua Series công thức 3 ở châu âu.

Tại châu Á, Kumho là nhà cung cấp lốp xe đua giành siêu giải quốc tế công thức 3 ở Hàn Quốc.

Vào đầu năm 2001, Kumho tài trợ cho cuộc đua xe cơ giới Nam - Bắc Triều Tiên để thắt chặt và hỗ trợ kinh tế 2 miền.

3.4.9. Hãng sản xuất lốp radial Hankook Tyre Company Ltd - Hàn Quốc (Đại bản doanh tại Seoul - Hàn Quốc)

Tập đoàn này chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng lốp, săm, ắcquy, vành hợp kim và tanh lốp. Đây là một trong số các hãng sản xuất lốp lớn nhất thế giới.

Hãng sản xuất các loại lốp xe từ xe con đến xe tải và xe bus, có thị trường trên 180 quốc gia. Hankook Tyre đã kết hợp công nghệ tân tiến với thiết kế cùng bề dày kinh nghiệm sản xuất lốp trên 58 năm, nên lốp của hãng đảm bảo chất lượng và có độ tin cậy đối với khách hàng.

Hankook Tyre có mặt ở khắp các châu lục với 11 công ty chi nhánh và 13 cơ quan đại diện.

Năm 2003 là năm Hankook Tyre đạt được mức doanh thu xuất khẩu lốp kỷ lục 700 triệu USD. Hơn 20 triệu lốp đã được bán trên khắp mạng lưới toàn cầu, kể cả hai khu vực chính là Trung Quốc và châu âu, 10 chi nhánh và 6 đại diện.

Châu âu và Bắc Mỹ là hai thị trường xuất khẩu lớn nhất, là nơi tiêu thụ các loại lốp chất lượng siêu bền của Hankook Tyre.

Lốp của hãng đáp ứng thị trường lắp ráp ô tô (OE) như thị trường xe Ford, Volkswagen và Renault cũng tăng lên không ngừng, củng cố hơn nữa thương hiệu của hãng. Hankook Tyre đã trở thành nhà cung cấp chính lốp xe Ford sau khi hợp đồng xuất khẩu trực tiếp kéo dài 5 năm được ký vào cuối năm 2003 có hiệu lực. Theo hợp đồng, hàng năm Hankook Tyre sẽ cung cấp cho Ford 380.000 lốp/ năm.

Kể từ năm 1961, hãng Ford đã thiết lập được luồng phân phối lốp xe tải, tiêu thụ ít nhất 1 triệu lốp/ năm. Nhờ hợp đồng này mà năm 2003 Hankook Tyre có thể giao cho Ford 1,4 triệu lốp, tăng lên 1,78 triệu lốp vào năm 2004 và đạt doanh thu 43 triệu USD. Từ năm 1999, Hankook Tire đã là nhà sản xuất lốp đầu tiên ở châu Ácung cấp cho Ford và năm 2000, hãng này cũng nhận được chứng chỉ chất lượng Q1 của Ford. Ford là hãng rất nghiêm ngặt về chất lượng và hiện có 5 nhà phân phối lẻ là Michelin, Goodyear, Continental, Pirelli và Hankook Tyre đang cung cấp hàng cho Ford.

Theo chuyên gia của Hankook Tyre, thì hợp đồng gần đây với Ford là một sự công nhận về kỹ thuật cao của Hankook Tyre.

Năm 2003, Hankook Tyre cũng ký hợp đồng cung cấp 550.000 lốp xe tải cho Ford.

Công ty cũng có kế hoạch giao bổ sung lượng lốp trị giá 65 triệu USD cho các hãng ô tô Volvo, Opel, Daihatsu, Mitsubishi và Volkswagen trong năm 2005, ngoài ra hãng còn thỏa thuận giao hàng đáp ứng các hãng ô tô khác như GM, Chrysler và Toyota.

Theo xếp hạng của Tạp chí "Modern Tire Dealer" đầu năm 2004, Hankook Tire có mức doanh số về lốp năm 2003 là 1,62 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng hàng năm 8,7%, vượt cả Toyo Nhật Bản (1,3 tỷ USD) đứng thứ 9 trong 11 công ty kinh doanh lốp hàng đầu thế giới: Michelin, Bridgestone, Goodyear, Continental, Pirelli, Sumitomo, Yokohama, Cooper, Hankook Tyre và Toyo.

Bảng 7: Doanh số lốp các hãng hàng đầu thế giới (tính bằng tỷ USD)

Tên hãng

2003

2002

Michelin

Bridgestone Corp

Goodyear Tyre

Continental AG

Pirelli

Sumitomo

Yokohama

Cooper Tyre

Hankook Tyre Co

Toyo Tyre & Rubber

Kumho Tyre Co

15,4

15,1

13,2

5,5

3,4

2,5

2,25

1,85

1,62

1,3

1,23

14,0

14,4

12,2

4,6

3,4

2,1

2,25

1,8

1,43

1,3

1,23

Giá các loại lốp thay thế tăng gần 2% vào năm 2003, mặc dù giá lốp thay thế cỡ P195/75R4 thực tế giảm so với giá năm 2002.

Trong những năm gần đây Hankook Tyre đã thực hiện chính sách dành ra 5% doanh số bán lốp hàng năm để đầu tư vào kỹ thuật, đổi mới sản phẩm. Hãng đã mở các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R & D) tại Mỹ, Đức và Trung Quốc, cùng với 6 cơ quan kinh doanh đại diện, để nâng cao chất lượng và marketing. Kết quả là hãng đã giành được một số hợp đồng cung ứng mới hoặc nhận tăng các đơn đặt hàng từ các hãng xe Ford, Volkswagen, Mitsubishi Motor và Volvo, đẩy mạnh xuất khẩu tăng 20% và đạt 456 triệu USD nửa đầu năm 2004. Lượng lốp chất lượng cao xuất khẩu có con số tăng vọt 44%, đạt 1 triệu bộ trong giai đoạn ngắn 6 tháng đầu năm, nâng mức lợi nhuận thuần lên 123%(từ 54,2 triệu USD lên 722 triệu USD).

Hiện tại Hankook cũng đang chú tâm mở rộng thị trường Trung Quốc, mặc dù hiện nay Hankook đã trở thành nhà cung cấp lốp lớn, chiếm 20% thị phần, ở thị trường này. Trong năm nay số lượng lốp của hãng sản xuất tại Hàn Quốc có triển vọng tăng 11%, tương ứng 124 triệu USD.

Vào ngày 2/5/2004 vừa qua Chủ tịch nước và Tổng Thư ký Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã đến thăm nhà máy sản xuất lốp ô tô của Hankook đặt tại Hoài An tỉnh Giang Tô. ông Hồ Cẩm Đào đã có cuộc tiếp xúc với công nhân và hơn 40 quan chức các địa phương.

Hiện tượng Chủ tịch nước tới thăm một nhà máy sở hữu tư nhân nước ngoài là hết sức hiếm, phản ánh mối quan tâm của Trung Quốc tới Hankook Tyre. Lãnh đạo Trung Quốc tỏ rõ mối quan tâm tới trang thiết bị và công nghệ sử dụng trong mỗi khâu sản xuất, kể từ bộ phận lưu hóa và phương tiện tạo dáng đang được áp dụng tại nhà máy sản xuất lốp radial xe tải và xe bus mới hoàn thiện, đi vào sản xuất vài năm qua. Vấn đề công suất, xuất khẩu, giá cả, khả năng thị trường trong nước cũng được Chủ tịch hết sức quan tâm.

Theo lãnh đạo của Hankook Tyre thì đây là dịp Trung Quốc kiểm tra khả năng của Hankook Tyre tăng công suất mở rộng sản xuất hơn nữa các nhà máy tại đây.

Cho tới nay hoạt động của các liên doanh giữa Trung Quốc và Hankook Tyre thông qua Công ty Hankook Tyre China như sau:

Từ năm 1999 Hankook Tyre đã tiến hành xây dựng một nhà máy tại Chiết Giang và một nhà máy tại Giang Tô. Hiện nay hai nhà máy này có công suất tổng hợp hàng năm là 15,85 triệu lốp. Tổng thu nhập về lốp năm 2003 đạt 36 tỷ won trong doanh số 322,2 tỷ won.

Hiện nay, Hankook là nhà sản xuất lốp lớn thứ 2 ở Trung Quốc và giữ thị phần cao nhất tại thị trường lốp ô tô, xe con các loại Trung Quốc. Có ít nhất 1/4 tổng số các nhà máy sản xuất ô tô ở Trung Quốc có sản phẩm của Hankook Tyre tham gia. Hãng này đảm bảo cung cấp 35% thị trường lốp radial xe ca Trung Quốc, với công suất mở rộng hàng năm 20 triệu bộ, cung cấp lượng lớn lốp cho thị trường OE (lắp ráp ô tô) Trung Quốc. Sản phẩm Hankook Tyre Trung Quốc được thừa nhận chất lượng cao, qua so sánh thử nghiệm cho thấy tương đương chất lượng của Michelin Pirelli và Continental (thông qua tổ chức đánh giá của Auto Plus).

3.4.10. Hãng sản xuất lốp Michelin Pháp (Đại bản doanh tại Clermont - Perrand Pháp)

Ra đời từ năm 1889, nhà máy sản xuất của Michelin tại Clermont - Fersand (Pháp) sản xuất chủ yếu các sản phẩm cao su như vòi cao su và các sản phẩm phục vụ canh tác nông nghiệp. Dần dần sau đó hãng sản xuất các loại săm lốp xe đạp rồi tiến tới lốp ô tô. Trong Đại chiến I,  Michelin xoay sang sản xuất lốp máy bay, sau đại chiến sản xuất lốp cho ô tô ray. Trong Đại chiến II, hãng từ chối hợp tác với Đức mặc dù các nhà máy của hãng thuộc quyền Đức.

Từ năm 1946, Michelin cho ra đời lốp radial đầu tiên được gọi là Michelin'X' - tiền thân của lốp radial chúng ta đang sử dụng hiện tại. Đây thật sự là thời điểm mở màn cho ngành công nghiệp lốp phát triển. Michelin sau đó ồ ạt tung hàng ra đáp ứng yêu cầu thị trường. Sản phẩm của hãng xâm nhập thị trường Mỹ năm 1950 sau khi công ty hợp tác với nước này. Michelin Tyre Corporation ra đời có trụ sở ở New York và sau đó phát triển ra khắp toàn cầu. Năm 1966 Michelin hoàn toàn chiếm hữu vị trí cao ở thị trường Mỹ khi hãng xe Ford đưa ra các loại xe mới.

Từ những năm 1970, Michelin phát triển tới 23 nhà máy sản xuất lốp radial mới. Michelin tiếp tục vị trí ưu thế, mở rộng sản xuất ở Trung Đông. Vào cuối những năm 1980, hợp nhất quyền sở hữu tài sản của Công ty Uniroyal Goodrich Tyre Mỹ, Michelin trở thành nhà sản xuất lốp dẫn đầu thế giới cho tới nay (chiếm 20% thị phần lốp toàn cầu). Hiện tại, Michelin có tới 69 nhà máy sản xuất ở 15 nước, 5 đồn diền cao su ở châu Phi và Nam Mỹ, 5 cơ sở thử nghiệm và 5 trung tâm R & D đặt tại Pháp, Nhật Bản và Mỹ. Hãng có mạng lưới bán hàng ở hơn 170 nước.

Ba công ty thống lĩnh thị trường hàng đầu thế giới hiện nay dẫn đầu là Michelin, Bridgestone và Goodyear. Tiếp sau đó mới là Continental, Sumitomo và Pirelli.

Michelin hiện đang cung cấp 3500 chủng loại lốp dành cho các loại xe cộ từ xe đạp, xe máy, ô tô, máy bay, tới xe tự hành vũ trụ của NASA.

Sản phẩm lốp của Michelin nổi tiếng về an toàn, bền và tốc độ chạy xe cao. Kể từ năm 1990, đáp ứng với yêu cầu môi trường, hãng cho ra đời loại "lốp xanh - Green Tyre". Đặc điểm của loại lốp này là có độ ma sát giảm, tiết kiệm năng lượng đồng thời giảm ô nhiễm môi trường. Loại lốp Green-X tiết kiệm năng lượng có nhãn hiệu là "Energy". Năm 1995, loại lốp xe tải Energy ra đời hàng loạt, với khả năng có độ giảm ma sát 20% và tiết kiệm 6% nhiên liệu.

Michelin đã tăng cường tham gia đồng sở hữu và đầu tư vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Hiện tại công ty đã tham gia vào 26 công ty tại khu vực và có nhà máy ở 4 nước là Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và Philippin. Michelin ôxtrâylia được thành lập năm 1997 nằm trong kế hoạch này của hãng và đã trở thành nhà cung cấp lốp hàng đầu trong khu vực.

Tính từ giữa 1960 tới 1990, trung bình cứ 9 tháng Michelin lại mở một nhà máy mới. Kể từ sau khi sở hữu Công ty Uniroyal Goodrich Mỹ từ 1989, Michelin bắt đầu củng cố để nâng cao hiệu quả hoạt động tối ưu. Hãng đang đặt kế hoạch đẩy mạnh sản xuất tại các cơ sở ở Mỹ để đạt doanh thu 900 triệu USD tại đây. Năm 2003, hãng cũng đã tham gia cổ phần sản xuất lốp tại Ba Lan và thông báo sẽ thành lập liên doanh với Trung Quốc.

Michelin đang mở rộng sang các lĩnh vực khác như quảng cáo, văn hóa, TV, đua ô tô, v.v... xe ô tô điện đầu tiên hiện sử dụng lốp của Michelin. Logo của hãng là "Michelin Man".

Hiện tại mỗi ngày Michelin sản xuất trung bình 770.000 lốp, 95.000 săm và 4 triệu km dây cáp.

Doanh số thuần về lốp quý I/2004 của Michelin đạt 3,8 tỷ ơrô, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2003. Doanh số lốp của Michelin tăng trưởng đều đặn và chắc chắn. Tuy nhiên quý I/2004 doanh số này đã bị tác động của một số yếu tố ảnh hưởng như sự tăng giá lốp dự kiến trước và sự hồi phục của thị trường Bắc Mỹ. Mặc dù giá nguyên liệu đang tăng, nhưng Michelin có khả năng điều chỉnh hoạt động để đạt hiệu quả tốt cả năm 2004.

Diễn biến thị trường lốp toàn cầu: quý I/2004 thị trường lốp toàn cầu nóng lên so với mong đợi trong môi trường giá cả chịu sức ép mạnh. Qua phân tích có thể thấy diễn biến từng khu vực thị trường như sau:

- Về thị trường Bắc Mỹ: Cơ sở gây ra sự biến động nhu cầu là sự kiện Irắc (3/2003). Cho tới quý I/2004, doanh số lốp của Michelin còn bị ảnh hưởng bởi dự báo tăng giá lốp từ các nhà sản xuất lốp châu âu và Bắc Mỹ, nhưng do môi trường kinh tế cải thiện chút ít ở khu vực Bắc Mỹ, nên nhu cầu lốp nói chung đang cao hơn lên trong quý I/2004. Tuy nhiên xu hướng này có thể khó giữ được trong các quý tiếp theo vì các yếu tố tăng giá. Trong thời gian này riêng thị trường sản xuất lốp cho xe ca và xe tải nhẹ (thị trường OE) có xu hướng giảm 1%; còn thị trường lốp thay thế xe tải lại phát triển nhờ sự tăng trưởng nền kinh tế khối NAFTA (tăng trưởng mạnh tại Mỹ, tăng vừa tại Canađa, giảm tại Mexico). Tại Mexico hiện đang tăng xu hướng radial hóa lốp.

- Về thị trường Nam Mỹ: Do môi trường kinh tế, đặc biệt ở Brazil, Achentina, Chile được cải thiện nhu cầu sản phẩm lốp ở đây đã tăng 4% so với quý I/2003.

- Về thị trường châu Á: Nhu cầu lốp radial cao nhất là lốp xe tải.

Trung Quốc là thị trường lớn thứ 3 ở châu Á, sau Nhật Bản và Hàn Quốc, nhu cầu lốp radial thay thế xe ca và xe tải nhẹ đang tiếp tục tăng mạnh.

Thị trường lốp radial thay thế tại Nhật Bản đang chững lại. Riêng nhu cầu lốp cho thị trường OE cho xe ca và xe tải nhẹ tại Trung Quốc và Thái Lan lại đang phát triển.

Thị trường lốp radial xe tải Trung Quốc tăng mạnh trong năm 2003.

Căn cứ vào diễn biến thị trường lốp toàn cầu nói trên mà Michelin đưa ra các chiến lược kinh doanh họp lý cho từng khu vực.

Tại thị trường lốp radial thay thế tại châu âu, Michelin có doanh số tăng trưởng vững nhờ các loại lốp mới có giá tăng từ 3,5% - 4,5%.

Tại Bắc Mỹ, nhờ sự cải thiện môi trường kinh tế ở đây mà hãng đã đạt mức thị phần bằng mức năm 2000.

Tại Nam Mỹ, doanh số của hãng về lốp xe tải tăng mạnh tại Brazil, Achentina và Chile với giá lốp tăng áp dụng từ cuối năm 2003.

Tại châu Á, doanh số lốp radial của Michelin tiếp tục tăng, đặc biệt lốp radial xe tải ở Trung Quốc. Thị trường lốp chủ yếu của hãng ở châu Á- Thái Bình Dương là Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan.

Mức tăng trưởng của Michelin trong thị trường lốp ôtô (OE) tại châu âu thấp hơn.

Kể từ 29/3/2004, Michelin tuyên bố tăng giá lốp radial xe ca và xe tải nhẹ tại thị trường châu âu vì nguyên nhân giá nguyên liệu tăng. Giá mới sẽ được áp dụng lần lượt cho tất cả thương hiệu lốp của Michelin trong giai đoạn từ 1/4 - 1/7/2004.

Từ 23/4/2004 Michelin thông báo tăng giá lốp radial xe ca và xe tải nhẹ tại thị trường lốp thay thế ở Mỹ. Michelin sẽ tăng trung bình mức giá của mình lên 3% đối với các thương hiệu lốp Michelin BF Goodrich Uniroyal và các thương hiệu khác dành cho xe ca/ xe tải nhỏ. Hiệu lực áp dụng tăng giá từ 5/7/2004.

Michelin Apollo Tyres Pvt Ltd là liên doanh mới, 51 : 49%, tổng đầu tư 70 triệu USD giữa Michelin và Apollo Tyre Ltd (hãng Ấn Độ lớn thứ 3 sau hãng sản xuất lốp radial MRF và JK Tyre Ấn Độ). Liên doanh này cho biết sẽ đưa ra loại lốp radial cho xe bus và xe tải mới dành cho thị trường Ấn Độ, sử dụng công nghệ của Michelin và phân phối trên mạng lưới kinh doanh của Apollo. Lốp này sẽ có thương hiệu mang đặc điểm chung của cả hai hãng. Vào năm 2005 Ấn Độ cũng sẽ sản xuất được loại lốp này thay vì nhập khẩu nhờ sự ra đời nhà máy mới ở đây.

Các sản phẩm lốp mới đưa ra của Michelin vào đầu 2004 gồm:

- Michelin Pilot Exalto dành cho xe ca có mặt tại thị trường từ 4/2004.

- Michelin Pilot Sport và Pilot Primacy dành cho xe thể thao.

- Michelin Power dành cho xe mô tô đua.

Từ tháng 5/2004, Michelin thỏa thuận cho Toyo (Nhật Bản) sản xuất và bán hệ thống công nghệ lốp PAX (hệ thống này của Michelin ra đời năm 1998 với 4 ưu thế: là lốp chống bẹp hiệu quả cao, mặt tiếp xúc thấp, viền lốp bất đối xứng, vành chống bẹp giúp cho lốp xe có thể tiếp tục chạy 200km với tốc độ 80 km/giờ và chịu tải bình thường). Toyo là công ty thứ 5 được quyền chào bán hệ thống công nghệ này sau Goodyear, Michelin, Pirelli và Sumitomo.

Kể từ năm 1988 Michelin đã tham gia vào thị trường Thái Lan. Công ty liên doanh của Michelin với một thành viên của tập đoàn Siam Cement (Thái Lan) có tên Michelin Siam Co. Ltd.

Sau nhiều năm liên tục đổi mới sản phẩm và mở rộng thị trường, Michelin đã trở thành thương hiệu lốp phổ biến tại Thái Lan. Từ thành công của liên doanh với Siam Cement, Michelin tiếp tục liên doanh với Siam Tyre Public Co và thành lập công ty có tên Siam Tyre Industry Co. Ltd năm 1992. Năm 1995 Michelin lại thành lập một liên doanh khác với một công ty Thái Lan khác có tên là Siam Marketing & Sales Co. Ltd.

Michelin cũng mua cổ phần của Siam Tyre Phra Pradaeng Co. Ltd (một liên minh của Siam Tyre). Tất cả các công ty liên doanh về sau này đều thuộc quyền sở hữu 100% của công ty liên doanh mẹ là Michelin Siam Co. Ltd. Các công ty này đều hoạt động tầm quy mô toàn cầu như vai trò của các tập đoàn.

Là một công ty lớn luôn cải tiến và đưa ra sản phẩm lốp mới, Michelin được cả thế giới thừa nhận là "biểu tượng cải tiến hàng đầu thế giới" đặc biệt trong lĩnh vực lốp radial. Michelin luôn luôn đi hàng đầu trong R & D, cũng như thử nghiệm chất lượng sản phẩm, đảm bảo lợi ích tối đa cho khách hàng.

Sản phẩm của tập đoàn Michelin Siam đa dạng từ lốp xe máy tới xe tải nặng dưới thương hiệu "Michelin" và "Siam tyre", hiện đã thành danh tại thị trường Thái Lan và khu vực Đông Nam Á.

Nhờ sự hợp tác chặt chẽ với Michelin, các công ty liên doanh của Thái Lan có cơ hội phát triển vị trí tốt nhất của mình trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh lốp xe.

Để hỗ trợ cho việc phát triển kinh doanh lốp tại Thái Lan và khu vực Đông Nam Á, Michelin và Siam Cement đã đưa ra thêm hai dự án nữa dưới dạng liên doanh, nâng số các liên doanh của Michelin với các công ty Thái Lan tại Thái Lan lên thành 7:

Michelin Siam Group Co. Ltd - Băng Cốc - 1996

Michelin Siam Co. Ltd - Chonburi - 1988

Michelin Research Asia Co. Ltd - Băng Cốc 1996

Thai Tyre Mould Co. Ltd - Chonburi - 1989

Siam Tyre Industry Co. Ltd - Saraburri - 1992

Siam Tyre phra Pradaeng Co. Ltd - Samutprakaru - 1993

Michelin Siam Marketing & Sales Co. Ltd - Băng Cốc - 1995.

Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Thái Lan là bốn thị trường lớn của Michelin tại châu Á. Chiến lược phát triển của Michelin tại khu vực này sẽ ra sao? Liệu Michelin có thực hiện tại Ấn Độ những gì đã thực hiện tại Trung Quốc. Trong 3 năm gần đây, nhu cầu lốp radial cho xe tải tại Trung Quốc tăng đột biến. Theo nhận định của Michelin thì nguyên nhân là do các công ty xe tải đã thấy hiệu quả sử dụng lốp radial tốt như thế nào. Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là đường xá ở Trung Quốc rất giống đường xá ở Ấn Độ và xe tải ở cả hai nước đều luôn phải chuyên chở quá tải.

Michelin đã có động thái mạnh tại Trung Quốc. Hãng này đã giành được 30% thị phần của thị trường lốp thay thế và trở thành nhà sản xuất lốp lớn nhất tại nước này. Kể từ khi Trung Quốc thành một trong các thị trường ô tô phát triển tốc độ mạnh nhất thì có khả năng là Michelin sẽ cùng phát triển với tốc độ đó.

Trung Quốc và Ấn Độ là hai thị trường chủ yếu của Michelin ở châu Á, do đó mà Michelin sẽ có vị trí rất mạnh nếu hãng này chủ tâm củng cố tại đây.

Công nghiệp lốp toàn cầu đang cạnh tranh khốc liệt và ba nhà sản xuất lốp hàng đầu (Michelin, Bridgestone và Goodyear) đang liên tục chạy đua để chiếm vị trí thứ nhất. Cho tới gần đây Michelin vẫn giữ được vị trí số một với 19% thị phần toàn cầu và hơn 1 tỷ USD lợi nhuận.

Tuy nhiên, hiện tại liên minh Goodyear - Sumitomo đã vượt lên, chiếm 22% thị phần, theo sát cả Michelin và liên minh này là Bridgestone. Người đang khẳng định vai trò siêu lợi nhuận của Michelin hiện nay là nhà chiến lược Edouard Michelin 39 tuổi, điều hành hãng từ năm 1999, kế thừa vai trò 44 năm điều hành liên tục của cha mình. Lẽ dĩ nhiên Ấn Độ chắc sẽ là nơi chủ yếu trong tầm ngắm chiến lược tương lai của hãng này.

3.4.11. Hãng sản xuất lốp Pirelli Tyre Itali (Đại bản doanh tại Roma - Italia)

Ngoài sản xuất và kinh doanh lốp, hãng còn sản xuất và kinh doanh năng lượng và viễn thông. Hãng hiện có 77 nhà máy ở 22 nước trên toàn thế giới. Pirelli là hãng sản xuất lốp truyền thống với patăng lốp xe đạp đầu tiên được cấp từ năm 1894, patăng lốp xe ô tô đầu tiên được cấp từ 1901. Nhờ chú trọng kỹ thuật mà từ nhiều năm qua Pirelli đã cố vươn lên thành một trong 6 nhà sản xuất lốp hàng đầu thế giới với doanh số hàng năm hơn 3,2 tỷ USD. Pirelli là một thành viên trong các nhà sản xuất lốp xe hàng đầu quốc tế, luôn thực hiện đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả và chất lượng các sản phẩm của mình từ lốp ô tô, lốp xe máy, xe đạp, lốp xe tải, xe bus, xe phục vụ công - nông nghiệp, xe đua, v.v... Thành công này tiếp nối thành công khác trong các nghiên cứu của hãng. Kết quả của công nghệ sản xuất lốp radial của hãng được cấp patăng từ năm 1948, tới đầu những năm 1970 là sáng chế về lốp ô tô tiết diện thấp (một sáng chế có ý nghĩa lớn đối với lốp rađial), loại lốp hiện đang phổ biến rộng rãi toàn cầu và được sản xuất đại trà.

Đặc biệt, Pirelli là hãng dẫn đầu cả hai thị trường OE (lốp lắp ráp) và lốp thay thế siêu bền. Để đáp ứng yêu cầu bạn hàng truyền thống trong ngành sản xuất ô tô nói chung vào đầu những năm 90, hãng đã củng cố chiến lược marketing, tăng cường vào định hướng đáp ứng yêu cầu của người sử dụng. Để thực hiện điều này, hãng đã có chương trình phát triển sản phẩm mới trên toàn khu vực, tìm cách rút ngắn khoảng cách thời gian từ "sản phẩm mới" tới thị trường. Các loại lốp công nghệ tân tiến ra đời không chỉ đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật cao của các nhà sản xuất ô tô mà còn là đáp ứng cho người sử dụng (lốp thay thế).

Loại lốp radial tiết diện thấp hoặc siêu thấp của hãng đã duy trì được vị trí vững chắc trên thị trường. Các thế hệ lốp loại này như Pzero đã được hãng đưa ra năm 1994, P6000a(1995) P7000a (1996) P5000 Dragon(1997) và sau này là P3000 Energya đã góp phần củng cố thương hiệu lốp "Pirelli" cả về mặt hiệu quả lẫn biểu tượng sử dụng phổ biến đối với các khách hàng khó tính nhất.

Lốp Pirelli dành cho mô tô đua cũng có vị trí cạnh tranh hàng đầu đối với các hãng khác giống như với các loại lốp xe cộ nói chung hiện hãng đang sản xuất. Năm 2001 là năm Pirelli đầu tư rất lớn vào quảng cáo (30 triệu ơrô) nhằm vào các thị trường châu âu, Bắc Mỹ, Trung Đông. Doanh số năm 2003 của hãng đạt 6 tỷ ơrô.

Từ nửa đầu năm 2000, Pirelli đã có chiến lược xâm nhập thị trường Ấn Độ. Liên doanh giữa Pirelli và tập đoàn Birla Ấn Độ với tổng vốn đầu tư 700 triệu USD là để sản xuất lốp radial. Công ty Birla Tyres liên doanh giữa Pirelli Italia - Birla Ấn Độ hiện trở thành nhà sản xuất lốp ô tô radial và săm dẫn đầu ở Ấn Độ, chiếm 10% thị phần nước này. Nhà máy sản xuất lốp công suất 1,5 triệu bộ/ năm của công ty liên doanh đặt tại Orissa(Ấn Độ). Nhà máy liên doanh sẽ cho ra đời sản phẩm lốp radial theo công nghệ của Pirelli Italia.

Từ năm 2000 Pirelli đã chuyển giao công nghệ sản xuất lốp radial cho công ty Nizhenkamsk (Nga) dây chuyền sản xuất lốp radial công nghệ Pirelli công suất 2 triệu lốp/ năm của Pirelli tại Nga bắt đầu hoạt động vào quý III/2004.

Mở đầu năm 2004, Pirelli thông báo dự kiến tăng giá các mặt hàng lốp tại châu âu lên khoảng 4 - 5%, hiệu lực từ tháng 6/2004. Pirelli là hãng đi đầu trong cuộc cách mạng cải tiến quy trình sản xuất và từ tháng 7 năm 2000 Pirelli thông báo sự ra đời của nhà máy sản xuất lốp đầu tiên trên thế giới trên cơ sở sử dụng hệ thống người máy lắp ráp liên hợp(MIRS - Modular Integrated robotized system) điều khiển hoàn toàn thông qua mạng. Đây là nhà máy sản xuất lốp điện tử (e-factory) đầu tiên đặt tại Bicocca - Milan (Italia) của Pirelli, đã hoàn thiện vào 3/2000 sau 3 năm xây dựng, có công suất ban đầu 125.000 lốp/ năm và đạt 250.000 lốp vào giai đoạn sau. Nhà máy Bicocca sản xuất loại lốp chất lượng cao và loại lốp chống bẹp tân tiến (e-tyre) theo dự án "Pirelli Total Mobility". Nhà máy ở Milan này sẽ là mô hình của hãng để phát triển hơn nữa trong giai đoạn tiếp theo.

Hãng sẽ đưa công nghệ MIRS vào sản xuất lốp mô tô và xe tải: e-factory tại Milan là nhà máy thứ nhất trong 5 nhà máy sẽ được xây dựng tại Italia, Đức, Anh, Mỹ và Trung Đông với tổng đầu tư 500 triệu ơrô, cho tổng công suất 10 triệu lốp/ năm. Trên hệ thống sản xuất theo MIRS - e - factory thì cứ 3 phút lại cho ra đời 1 lốp: giảm chu trình sản xuất lốp truyền thống từ nguyên liệu đến thành phẩm 6 ngày xuống còn 72 giờ, vừa tiết kiệm thời gian, không gian, vừa tiết kiệm nguyên vật liệu.

3.4.12. Hãng sản xuất lốp Nokian Tyres Phần Lan

Được thành lập từ năm 1800 trên cơ sở Công ty cao su Phần Lan, tham gia vào thị trường sản xuất lốp xe đạp năm 1925 và thị trường lốp ô tô năm 1932. Môi trường khí hậu lạnh quanh năm khiến các mặt hàng lốp của hãng sản xuất ra phù hợp với điều kiện khí hậu băng tuyết thay đổi bất thường. Hiện tại Nokian Tyre là nhà sản xuất lốp lớn nhất ở các nước Bắc âu, đồng thời cũng là công ty duy nhất trên thế giới tập trung vào khu vực này. Sản phẩm của hãng đa dạng từ lốp ô tô, xe tải chở hàng, lốp xe mùa hè và đông, đặc biệt là lốp chuyên dụng hạng nặng.

Doanh thu của Nokian năm 2000 là 400 triệu USD, thị trường của hãng gồm Thụy Điển, Nauy, Nga, các nước vùng Ban Tích. Số nhân công năm 2000 là 2500 người. Doanh số thuần về lốp xe ca, xe tải và xe con của hãng chủ yếu từ thị trường các nước Bắc âu và Nga đem lại. Một khu vực thị trường khác là Trung âu, khu vực Alpơ, Bắc Mỹ và Canađa. Lốp mùa đông chiếm 70% doanh số. Các thị trường đang tăng trưởng nhanh đặc biệt có Nga, Trung âu và Mỹ. Các sản phẩm thương hiệu Nokian cũng được sản xuất theo hợp đồng tại Slovakia, Inđônêxia, Mỹ, Ba Lan, Hungari.

Các loại lốp xe chuyên dụng hạng nặng phục vụ cho ngành kiểm lâm, nông nghiệp và công nghiệp mang lại lợi nhuận chính cho hãng. Trong vài năm qua, nhu cầu về lốp radial tăng hết sức nhanh, nên hãng đã đầu tư mạnh vào công nghệ sản xuất loại lốp này.

Nokian là hãng sản xuất lượng lớn nhất lốp xe đạp so với hãng khác trên thế giới, thị trường chính của loại lốp này là các nước Bắc âu, Trung âu và Mỹ.

Hệ thống bán hàng Vianor của hãng hiện là lớn nhất trong khu vực Bắc âu, với gần 170 cơ sở rải khắp Phần Lan, Thụy Điển, Nauy, Estonia, Latvia. Vianor bán cả ô tô, xe tải lẫn lốp các loại xe cộ. Trung tâm Roodsnood của hãng là nơi chịu trách nhiệm về phát triển sản phẩm mới kinh doanh công nghệ lốp.

Các liên minh của Nokian gồm: Cooper (Mỹ); Dunlop (Anh/ Đức, Pháp, Nhật Bản); Gajah Tunggal (Inđônêxia); Iofan (Rumani); Michelin.

4. THỊ TRƯỜNG VÀ ĐẦU TƯ

4.1. Một vài nét giới thiệu chung

Bảng 8:Xếp hạng theo doanh số lốp của các hãng hàng đầu thế giới (tỷ USD)

Tên hãng

2001

2000

Bridgestone Corp

Group Michelin

Goodyear Tyre & Rubber

Continental AG

Sumitomo Group

Pirelli SpA

Yokohama Rubber

Cooper Tyre

Toyo Tyre & Rubber

Kumho Tyre

Hankook Tyre

13,3

13,0

12,5

4,4

2,7

2,6

2,1

1,7

1,3

1,3

1,1

14,2

13,6

12,7

5,0

2,8

2,7

2,5

1,8

1,3

1,2

1,1

Theo xếp hạng của "Modern Tire Pealer" đầu năm 2004 thì thứ tự theo doanh số của 11 hãng sản xuất hàng đầu vào năm 2003 như sau: Michelin, Bridgestone, Goodyear, Continental. Pirelli, Sumitomo, Yokohama, Cooper, Hankook, Toyo và Kumho.

(Hankook đang từ vị trí cuối trong bảng xếp hạng 2000 - 2001 đã vượt lên thứ 9 với doanh số 1,62 tỷ USD vào năm 2003, tăng trưởng trung bình 8,7%/ năm).

Sumitomo (Nhật Bản) mua quyền sở hữu sản xuất kinh doanh lốp của Dunlop năm 1984/85.

Continental AG mua quyền sở hữu Công ty General Tyre Corporation (Mỹ) năm 1987.

Bridgestone (Nhật Bản) mua Firestone (Mỹ) năm 1988.

Pirelli mua Armstrong Rubber (Mỹ) năm 1988.

Michelin mua quyền sở hữu sản xuất và kinh doanh lốp của Uniroyal - Goodrich Bắc Mỹ năm 1989.

Đặc điểm của ngành công nghiệp lốp toàn cầu là một số ít hãng lớn nắm vai trò chi phối gần như toàn bộ ngành. Theo "European Rubber Journal", ba hãng Michelin, Goodyear và Bridgestone đang nắm giữ gần nửa doanh số lốp toàn cầu. Các hãng lớn này đều tổ chức mạng lưới sản xuất và kinh doanh lốp của mình trên quy mô khắp toàn cầu. Vấn đề sản xuất tại mỗi nước được bố trí hợp lý hóa và chuyên môn hóa sao để không phải tất cả nhu cầu lốp của một nước sẽ được sản xuất trong vòng nước đó. Ví dụ, mặc dù Michelin chiếm vị trí cung cấp hoàn toàn các loại lốp radial cho Liên hiệp Vương Quốc Anh nhưng các loại lốp công nghiệp, nông nghiệp, hầm mỏ chủ yếu lại được nhập khẩu. Xu hướng gia tăng trong việc chuyên môn hóa sản phẩm trong các tập đoàn đa quốc gia ngày càng mạnh hơn nhờ sự tăng nhu cầu sử dụng lốp và đa dạng kích cỡ của nó ở các thị trường nội địa trong những năm gần đây.

4.2. Xu hướng tăng giá lốp toàn cầu

Giá cao su tự nhiên tăng 40% trong năm 2002/2003, trong khi đó giá các nguyên liệu đầu vào khác như cao su tổng hợp, muội than và sợi ni lông dành cho sản xuất lốp cũng tăng cao, đã làm cho giá thành lốp bị đội lên mạnh. Xu hướng tăng giá lốp trên thị trường sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới.

Một số nhà sản xuất lốp ngay từ cuối năm 2003 đã tăng giá lốp của họ lên 1,5%, một số nhà sản xuất khác tìm cách giảm chiết khấu để cố giữ ổn định giá sản phẩm (theo nhận xét Hiệp hội các nhà sản xuất lốp Ấn Độ - ATMA).

Hiện các nhà sản xuất lốp đang phải chịu sức ép tăng chi phí sản xuất. Giá nguyên liệu trong những tháng cuối năm 2003 đã tăng lên tới 6%. Giá cao su tự nhiên tăng cao kéo theo giá cao su tổng hợp tăng tới 50% từ cuối năm 2003.

Theo ATMA, giá lốp ô tô tại Ấn Độ chắc chắn sẽ phải tăng 2,5% (ngành sản xuất lốp chiếm hơn 50% lượng cao su sản xuất trong nước).

Giá cao su tăng cao đè nặng lên các nhà sản xuất và kinh doanh lốp ở Trung Quốc. Các nguồn cung cấp nguyên liệu cao su khan hiếm hơn do điều kiện thời tiết tại Thái Lan, Inđônêxia và Malaixia cộng với các vấn đề khó khăn khác làm các nhà sản xuất lốp ở đây gặp nhiều khó khăn.

Giá nguyên liệu đầu vào như sợi nilon và cao su tổng hợp tăng theo cùng tốc độ tăng giá các sản phẩm dầu mỏ(giá dầu mỏ cuối năm 2003 tăng lên 28 USD/ thùng, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2002 và cuối năm 2004 đã tăng lên trên 50 USD/ thùng).

Tăng giá lốp là cách duy nhất mà các nhà sản xuất có thể đối phó (theo ATMA), tuy vậy giá lốp cung cấp cho thị trường OE (lắp ráp) lại không thể tăng được vì đã ký hợp đồng ổn định.

4.3. Thị trường và đầu tư lốp ở Trung Quốc

Nhờ kinh tế phát triển ngày càng mạnh mà ở Trung Quốc đường xá nâng cấp với tốc độ cao, các khu vực kinh tế phát triển khắp nơi. Các công ty quốc tế, các nhà sản xuất ô tô cũng đang nhằm vào thị trường nước này và lần lượt chuyển các hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình sang Trung Quốc.

Tất cả những điều đó đã tạo nên cơ hội và triển vọng lớn để phát triển ngành sản xuất lốp ô tô ở nước này. Sản lượng lốp của Trung Quốc năm 2002 đạt hơn 125 triệu lốp. Gần 1/3 số lốp Trung Quốc được bán ra nước ngoài, đưa nước này vào hàng ngũ các nhà xuất khẩu lốp lớn nhất thế giới.

Theo con số thống kê, Trung Quốc hiện có khoảng 300 doanh nghiệp sản xuất lốp, hơn 200 trong số đó nằm ở tỉnh Sơn Đông và khoảng 70% số đó là xí nghiệp nhỏ với công suất hàng năm là 500.000 lốp hoặc kém hơn. Tuy nhiên, có khoảng 50 doanh nghiệp nằm trong tổ chức Hiệp hội lốp cấp cơ sở của Hiệp hội công nghiệp cao su Trung Quốc, đã sản xuất ra hơn 70% tổng sản lượng lốp của nước này, đây cũng chính là các doanh nghiệp xương sống của ngành sản xuất lốp Trung Quốc. Năm 2002, 50 thành viên này đã sản xuất được 92,7 triệu lốp, đạt doanh thu 33,38 tỷ NDT, tăng 20,5% so với 11,9% năm 2001. Tổng lợi nhuận khu vực này tăng 274%, tương đương 1,19 tỷ NDT, trong khi sản phẩm tồn kho tụt xuống 16%, khối lượng xuất khẩu tăng 12%, giá trị xuất khẩu tăng 17%. Có mười nhà sản xuất lốp dẫn đầu (trên cơ sở doanh thu) ở Trung Quốc là: Anhuy Jiatong doanh thu 3,074 tỷ NDT;Chengshan Tyre 2,477 tỷ NDT; Triangle Group 2,435 tỷ NDT; Shanghai Tyre 2,129 tỷ NDT; Qingdao Yellow Sea 2,088 tỷ NDT; Hangzhou Zongce 1,954 tỷ NDT; Double Star Huaqing 1,838 tỷ NDT; Guizhon Tyre 1,55 tỷ NDT; Henan Tyre 1,362 tỷ NDT và Shangdong Linglong 1,109 tỷ NDT. Từ những năm trước đó cổ phần doanh nghiệp của 10 hãng hàng đầu này đã tăng một cách đáng chú ý. Lợi nhuận thực tế của 10 hãng sản xuất hàng đầu xếp theo thứ tự: Cheng Shin, Anhuy Jiatong, Triangle Group, Chengshan Tyre, Hangzhon zhangce, Michelin shenyang, Nanjing Jinhu, Double Star Huaqing, Henan Tyre và Qingdao Yellow Sea.

Từ những con số thống kê này, người ta có thể thấy doanh thu của các doanh nghiệp lốp không tỷ lệ thuận với lợi nhuận của nó, nhưng hệ thống tổ chức nghiệp đoàn và việc đa dạng hóa sản phẩm là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới lợi nhuận của họ.

Hiệu quả kinh tế của toàn bộ ngành sản xuất lốp ở Trung Quốc năm 2002 thể hiện rõ những đặc điểm sau: Thứ nhấtlà sự tăng trưởng mạnh của thị trường lốp khiến cho lợi nhuận của ngành này tăng lên nhanh chóng. Thứ hai là vấn đề tăng đầu tư và mở rộng công suất sản xuất lốp xe radial toàn thép tải trọng lớn nói chung vẫn còn chưa thật sự ổn định. Thứ ba là những điều chỉnh trong việc đa dạng hóa sản phẩm đã đạt được kết quả đáng chú ý. Thứ tư là vấn đề cải cách hệ thống tổ chức công ty - nghiệp đoàn và biện pháp sở hữu tài sản đang được thực hiện sâu rộng hơn.Thứ năm là tốc độ tăng trưởng loại lốp radial xe tải trọng lớn nhanh đạt tới 63,1% song vẫn chưa theo kịp nhu cầu ngày càng tăng của thị trường và thứ sáu là vẫn còn cơ sở để có thể tăng tốc nhanh hơn nữa sự phát triển ngành lốp trong năm 2003 và những năm tiếp theo.

Dữ liệu của Hiệp hội lốp cấp cơ sở cho thấy sản lượng lốp hàng năm của Trung Quốc tăng không ngừng: 78,46 triệu lốp năm 2000 lên 83,74 triệu lốp năm 2001. Con số năm 2002 là 92,7 triệu lốp tăng 10,71% so với 2001.

Tại lĩnh vực lốp radial trong 3 năm gần đây có sự tăng trưởng mạnh đối với lốp radial xe ô tô tải trọng lớn và xe tải nhẹ, với tổng sản lượng về lốp tải trọng lớn tăng 2,1 lần và tải trọng nhẹ 1,6 lần. Kể từ 27/11/2002, loại lốp xe radial toàn thép mã 23.5R.25 đầu tiên dành cho xe đường chưa phải cao tốc được sản xuất thử thành công tại một nhà máy thuộc tập đoàn Triangle Tyre. Dự án sản xuất tiếp theo có công suất dự kiến ban đầu là 10.000 lốp/ năm 2003.

Vào năm 2002, lốp bố chéo (bias) dùng cho xe tải nặng ở Trung Quốc còn chiếm tỷ lệ đến gần 20% (lần lượt giảm từ 25% năm 2000 xuống 22,47% năm 2001 và 19,96% năm 2002). Lốp xe radial đứng vị trí thứ hai, chiếm 18,53%.

Tới nay Trung Quốc mới chỉ sản xuất hai loại lốp radial cho xe chạy đường bình thường, chưa thấy họ có ý định phát triển sản xuất các loại lốp radial thông số khác.

An toàn, bền và tiết kiệm năng lượng hơn, lốp xe radial đã thay thế được các loại lốp cũ. Tuy nhiên, trong 125 triệu lốp sản xuất năm 2002, chỉ có 38,09% là lốp radial. Theo kế hoạch 5 năm lần thé 10 của Trung Quốc (2001 - 2005) sản lượng lốp xe tải nặng sẽ đạt 13 triệu chiếc vào năm 2005 lốp radial chiếm 45%. Vào năm 2015, con số này sẽ là 80% trong tổng 30 triệu bộ. Ngành sản xuất lốp radial Trung Quốc sẽ còn có tiềm năng và cơ hội phát triển mạnh trong thời gian tới.

Người ta dự đoán rằng, sản lượng lốp radial xe tải nặng, radial xe tải nhẹ, radial chất lượng, v.v... sẽ duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh và tỷ lệ của nó trong tổng sản lượng sẽ tăng cao hơn nữa, đặc biệt là lốp radial cho xe tải nặng. Ngược lại với nền tảng hạ tầng cơ sở đường xá của Trung Quốc đang được củng cố nâng cấp với tốc độ nhanh, việc sản xuất lốp bias cho xe chạy đường bình thường (không cao tốc) và lốp dành cho xe nông nghiệp vẫn tiếp tục được mở rộng với tốc độ nhanh chóng. Trong 5 năm tới, lốp radial, lốp bias cho xe đường không cao tốc và lốp xe nông nghiệp sẽ có triển vọng đầy hứa hẹn.

Cạnh tranh và hợp tác tại khu vực sản xuất lốp Đông Bắc Ávà Trung Quốc sau khi Trung Quốc gia nhập WTO

Thành phố công nghiệp mới nổi lên tại Vùng Đông Bắc - Trung Quốc - Weihai là môi trường tốt để phát triển kinh tế hiệu quả và hài hòa: đầu tư nước ngoài vào khu vực này trong năm năm qua lên tới 11,3 tỷ USD, trong đó vốn nội địa là 90 tỷ NDT. Có rất nhiều ngành công nghiệp mới, kỹ thuật cao trong nước và quốc tế đã tham gia vào khu vực, tạo ra luồng gió kinh tế mới ở đây.

Ngành sản xuất lốp là ngành công nghiệp xương sống cho thành phố - nơi mà các sản phẩm cao su đã được bắt đầu sản xuất vào những năm 1930. Weihai hiện nay là khu vực sản xuất lốp nội địa lớn nhất của Trung Quốc.

Trong thời kỳ ngành sản xuất lốp trong nước bị chững lại vào năm 2001, thành phố này vẫn có doanh thu lốp là 4,3 tỷ NDT.

Sản xuất lốp có vị trí sống còn cho nền kinh tế ở vùng Đông Bắc Trung Quốc, nhất là sau khi Trung Quốc gia nhập WTO.

Tổng sản lượng lốp ở châu Áchiếm 35% tổng sản lượng toàn cầu, trong đó 30% tập trung vào các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Năm 2000, tổng giá trị kinh doanh lốp thế giới đạt 700 tỷ USD, trong đó ba nước trên(gộp Trung Quốc với Đài Loan) chiếm tới 39%. Nhờ vị trí địa lý thuận lợi bên cạnh các nước sản xuất cao su tự nhiên ở Đông Nam Á, khu vực trong tương lai sẽ dẫn đầu thế giới về sản xuất lốp.

Nhu cầu thị trường lớn, Trung Quốc và các nước láng giềng đang được coi là khu vực chuyển hướng kinh tế, có nhiều cơ hội vì đông dân, nhu cầu đa dạng và đang phát triển. Điều không còn nghi ngờ gì nữa là khu vực này sẽ thành thị trường lốp radial cho xe con và xe tải hàng đầu thế giới trong 10 năm tới. Do đó ngành lốp tại khu vực đang chịu sức ép lớn trong việc đáp ứng về yêu cầu thực tại lẫn nhu cầu tương lai, trong đó có vấn đề chất lượng sản phẩm lốp, quy mô sản xuất, v.v...

Hiện Trung Quốc đang liên tục cải thiện môi trường chính sách, giảm thuế và áp dụng chính sách giảm thiểu các dự án đầu tư nước ngoài có ưu thế khống chế về mặt vốn trong lĩnh vực sản xuất lốp, là mặt hàng chiến lược truyền thống nước này. Ngành sản xuất lốp ô tô ở Trung Quốc, đặc biệt là lốp radial đang phát triển với tốc độ cao.

Các nhà sản xuất lốp châu âu và châu Mỹ đang tích cực xúc tiến đầu tư vào Trung Quốc.

Mặc dù Trung Quốc là nước có số lượng lớn các nhà sản xuất lốp, nhưng thực tế các nhà sản xuất ở đây chưa có sức cạnh tranh mạnh vì các cơ sở nhỏ bé và yếu. Sự cạnh tranh khốc liệt hơn trong giai đoạn tới sẽ thúc đẩy ngành sản xuất lốp Trung Quốc bước sang giai đoạn củng cố lại, mặt khác tạo điều kiện thu hút nguồn vốn nước ngoài. Điều được dự đoán là Trung Quốc sẽ trở thành chiến trường cạnh tranh về lốp trong khu vực. Kế tục thời kỳ phát triển liên doanh lốp từ những năm 1990, ngành sản xuất lốp Trung Quốc nay lại có cơ hội nhảy vọt mới và đẩy mạnh phát triển thương hiệu, đổi mới sản phẩm.

Giới thiệu một số công ty sản xuất lốp radial tại Trung Quốc và Đài Loan:

- Triangle Group: Tổng tài sản 30 tỷ NDT, sản lượng hàng năm 9 triệu lốp (5 triệu lốp radial).

Đây là hãng có thương hiệu thành danh và sản phẩm lốp có uy tín đầu tiên trong ngành sản xuất lốp ở Trung Quốc. Số lượng lốp xuất khẩu hàng năm của hãng là 1,5 triệu bộ, doanh thu 75 triệu USD (năm 2001). Thị phần lốp radial toàn thép dành cho xe tải của hãng tại Trung Quốc là 20%. Sự phát triển lâu đời của hãng đã tạo điều kiện cơ bản để hãng có thể tham gia vào thị trường cạnh tranh quốc tế và hợp tác phát triển sản xuất (tham gia vốn, công nghệ) tại khu vực, nhất là ở vùng Đông Bắc Á.

- Shangdong Linglong Group (Sơn Đông Trung Quốc) được thành lập năm 1995 trên cơ sở Công ty lốp Vân Đài. Công ty không chỉ là một trong 45 nhà sản xuất cao su hàng đầu thế giới, mà còn là một trong 10 nhà sản xuất cao su hàng đầu ở Trung Quốc. Công ty đang sản xuất và kinh doanh nhiều loại lốp trong đó có lốp radial các loại (radial bán thép radial bố toàn thép). Tổng số vốn của công ty là 1,8 tỷ NDT. Số nhân viên hơn 6000 người. Sản lượng lốp hàng năm hiện nay của công ty là 4 triệu bộ, trong đó có 1,5 triệu bộ lốp radial bán thép và 1 triệu radial bố toàn thép. Công ty đạt chứng chỉ tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng như QS 9000, VDA 6.1 và GB/T 19001. ISO 9001. Thương hiệu lốp của Công ty là "Ling Long" được công nhận là một trong 10 thương hiệu hàng đầu của ngành công nghiệp cao su Trung Quốc. Sản phẩm lốp của công ty hiện đang được bán ở 80 nước trên thế giới.

Khu công nghiệp cao su Ling Long được thành lập từ năm 2001 trên tổng diện tích 1900 mẫu với tổng đầu tư là 2,6 tỷ NDT, chủ yếu sử dụng để sản xuất lốp radial bố toàn thép và các sản phẩm phụ trợ. Được chọn là dự án phát triển chính, Dự án lốp radial bố toàn thép của hãng sẽ được sản xuất theo tiêu chuẩn kép "Hiệu quả công nghệ cao và phù hợp tối ưu khi sử dụng" do Ủy ban kinh tế và thương mại quốc gia ban hành. Cho tới nay sản lượng ban đầu theo dự án này là 1 triệu bộ lốp radial xe con/ năm. Kể từ tháng 6/2003, dự án được đầu tư thêm 0,4 tỷ NDT để phát triển loại lốp radial bán thép với sản lượng 2 triệu bộ/ năm, dự kiến cho ra sản phẩm vào quý I/2004. Sản lượng lốp radial sau khi hoàn thiện dự án của hãng sẽ được nâng lên thành 4 triệu bộ/ năm, trong đó 3 triệu bộ lốp radial bán thép và triệu bộ radial toàn thép. Ngoài ra, từ tháng 12/2002 và tháng 3/2003 dự án về sản xuất 40.000 tấn muội than và nhà máy nhiệt điện cũng được triển khai. Hoạt động hiệu quả từ chuỗi dự án này sẽ đảm bảo chi phí sản xuất thấp, nâng cao lợi nhuận kinh tế. Hãng cũng cho thực hiện một dự án về nhà máy sản xuất xi măng công suất 200.000 tấn/ năm tận dụng xỉ và tro than, dự kiến hoạt động vào năm 2004.

Khu công nghiệp cao su của Shangdong Linglong Co. sẽ là mô hình công nghiệp hiện đại đem lại lợi nhuận cao, ít ô nhiễm, sử dụng toàn công nghệ cao và rất phù hợp với thời đại phát triển kinh tế hiện nay.

Vào cuối kế hoạch 5 năm lần thứ 10(2005), hãng sẽ cho ra đời 4 triệu bộ lốp thông thường và 8 triệu bộ lốp radial với doanh thu tương ứng là 5 tỷ NDT.

Sản phẩm lốp của Linglong chủ yếu sẽ đáp ứng cho nhu cầu thị trường trong nước đang ngày càng tăng nhanh. Theo thống kê, tổng số ô tô sản xuất tại Trung Quốc năm 2000 đạt 1.804.500 chiếc, tăng 10,85% so với năm 1999, xe con tăng 12%. Trong khi đó tổng số lốp ô tô thông thường sản xuất ra là 5.721.700 bộ, tăng 4,99% so với năm 1999, riêng lốp radial là 20.900.000 bộ. Với yêu cầu tăng nhanh ngành vận tải, thị trường lốp tại đây sẽ phát triển mạnh hơn nữa.

Lốp do cả tỉnh Sơn Đông (trong đó Linglong nắm phần chủ yếu) chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu thực tế trong nước. Nói chung, lốp do Trung Quốc sản xuất ra hiện tại chủ yếu xuất khẩu cho vùng Đông Nam Ávà Trung Đông. Sản phẩm của Linglong hiện đang xuất khẩu 30% còn 70% là đáp ứng trong nước.

- Shenyang Chemical Industry Group (SCIG): Là tập đoàn nhà nước hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hóa dầu Trung Quốc.

Các nhà máy của tập đoàn hiện có Shenyang No3, sản xuất các loại lốp. Shenyang No4 chuyên sản xuất các sản phẩm cao su thủy lực, v.v... Shenyang Mold Factory chuyên cung cấp một phần hoặc khuôn lắp ráp dành sản xuất lốp radial, lốp OTR, v.v... Shenyang Belt Factory sản xuất các loại đai lốp khác nhau dưới nhãn hiệu "Long Bridge".

- Chengshan Tyre: lớn thứ 2 ở Trung Quốc với 20 seri và 200 kích cỡ lốp khác nhau, hàng năm hãng sản xuất được 8,5 triệu bộ lốp và đạt doanh thu năm 2002 là 2,477 tỷ NDT. Guang-Ta-Tyres(GTT) là một công ty thành viên của Chengshan thành lập 1997 đặt ở nước ngoài có nhiệm vụ marketing và phân phối sản phẩm lốp thương hiệu "Chengshan" khắp thế giới.

GTT tại ôxtrâylia đã bán được 250.000 bộ lốp kể từ năm 1999 đạt doanh thu lớn tại đây.

- Cheng Shin Tyre: là nhà sản xuất lốp lớn đứng thứ 14 trên toàn cầu, có nhà máy sản xuất các loại lốp các kích cỡ tại cả Đài Loan và Trung Quốc.

Dưới tên gọi Maxxis, hãng sản xuất ra hàng năm 510 triệu bộ lốp từ lốp xe đạp, mô tô, xe tải nặng, xe nông nghiệp, lốp radial xe con - xe tải, chưa kể tới hàng triệu bộ săm.

Tiêu chí của Cheng Shin là đảm bảo chất lượng đạt uy tín cao. Hãng đã xây dựng hệ thống theo dõi chất lượng hàng hóa do mình sản xuất khắp toàn cầu, đáp ứng kịp thời yêu cầu khách hàng. Nhờ tổ chức quản lý mọi mặt hoàn hảo, năm 1994 Cheng Shin đã là công ty cao su đầu tiên nhận ISO 9001 và sản phẩm lốp được cấp chứng chỉ Q1 về chất lượng của hãng ôtô Ford.

Sản phẩm lốp của Cheng Shin hiện có mặt ở hầu như 100 quốc gia trên thế giới.

- Qingdao Rubber Group Co. Ltdlà một trong 10 hãng sản xuất lốp hàng đầu Trung Quốc.

Các sản phẩm của Qingdao gồm có:

Lốp radial - 1

900 R20 16 144/142L - 55.41kg

Lốp radial - 2

900 R20 14 141/139L ... 55.70kg

Lốp radial - 3

900 R20 14 141/139 K... 55.90kg

Lốp radial - 4

110 R20 16 150/147 K - 74.78kg

Lốp radial - 5

120 R20 18 154/151 F 89.86kg

Lốp radial - 8

11R 22.5 14 144/142 M 15mm 52.16kg

Lốp radial - 9

12R 22.5 18 150/147 M 15,5mm 67kg 9.0 8.25 3.550 3075

Lốp radial - 10

255/ 100R 168 126/124 K - 39.99 6.5 H

Lốp radial - 11

750 R20 14 130/128 M - 36.38kg

Lốp radial - 12

11R 24.5 16 149/146 M 21mm 62.76

Lốp radial - 14

11R 22.5 16 146/143 M 19mm 59.50kg

Lốp radial - 15

11R 24.5 16 149/146 M 17mm 60.95kg

Lốp radial - 16

11R 22.5 16 146/143 M 15mm 59.50kg

Kailian Group là Tập đoàn kinh doanh nhà nước mới ra đời trong những năm đầu thập kỷ 21 bao gồm hơn 40 công ty hóa chất và cao su, trụ sở chính của Tập đoàn đặt tại Thanh Đảo(Qìngao) Trung Quốc. Công ty Kailian Corporation Ltd trong Tập đoàn này đóng vai trò Công ty mẹ sử dụng vốn nhà nước dưới dạng cổ phần chi phối.

Tổng tài sản Tập đoàn này là 11,2 tỷ NDT. Kailian hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng từ lọc dầu, hóa dầu, hóa chất cơ bản (vô cơ và hữu cơ), hóa chất tinh khiết, phân bón, thuốc trừ sâu, lốp xe và các sản phẩm cao su khác (như băng tải cao su, vòi cao su, cao su latex), xi măng, vật liệu xây dựng hóa chất và trang thiết bị chế biến cao su, v.v...)

Tập đoàn có 27 liên doanh, quan hệ với hơn 40 nước, với 1440 mặt hàng thuộc 400 thể loại khác nhau.

Các sản phẩm lốp đa dạng và chất lượng cao của Kailian đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp sản xuất lốp của Trung Quốc. Sản phẩm chính của Tập đoàn là lốp radial bố toàn thép cho xe tải, xe tải nhẹ, xe con, xe nông nghiệp, công nghiệp và các loại lốp cho xe đẩy, xe đạp, v.v... Tổng công suất lốp hàng năm của Tập đoàn là 2,6 triệu chiếc trong đó có 1,3 triệu là lốp radial.

Hiện dự án đã được UBKT & TM Trung Quốc phê duyệt, sản lượng 2,7 triệu lốp radial hàng năm đang được Tập đoàn này triển khai.

Tập đoàn và các sản phẩm lốp đã nhận được chứng chỉ tiêu chuẩn chất lượng Trung Quốc, ISO 9001, ECE Châu âu, v.v...

- Quangxi Nanning Zhuangjin Rubber Co. Ltd

Thành lập từ năm 1959, hãng đã trải qua hơn 40 năm chuyên sản xuất các sản phẩm cao su các loại. Do nhu cầu thị trường tăng cao, công ty đã mở rộng sản xuất mặt hàng lốp radial. Công ty đang kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước cùng hợp tác thực hiện dự án sản xuất 800.000 bộ lốp radial bán thép/ năm với 300.000 lốp xe tải.

- Shanghai Tyre & Rubber Ltd

Là hãng được tổ chức lại từ hãng SharHua Rubber Factory và Shanghai Tsen Tai Rubber Factory từ năm 1990. Theo mức doanh số kỷ lục năm 2000, hãng này đứng thứ 26 trong 500 doanh nghiệp công nghiệp ở Thượng Hải, đứng thứ 15 trong số 75 nhà sản xuất lốp lớn nhất thế giới. Sản phẩm chính của hãng là lốp radial xe tải nặng bố toàn thép, lốp radial xe tải nhẹ, lốp bias xe tải, lốp xe nông nghiệp với 10 dạng khác nhau và hơn 350 quy cách phẩm chất. Mỗi năm hãng sản xuất được 1,3 triệu bộ lốp xe tải. Lốp radial của hãng đã sớm nhận được chứng chỉ chất lượng của Bộ Vận tải Mỹ, Ủy ban kinh tế châu âu, Hãng cũng đã có chứng chỉ ISO 9002.

- Shangdong Chengshan Rubber Group

Là công ty hợp nhất về mặt pháp lý trên cơ sở Shangdong Chengshan Rubber Stock Co. Ltd thành tập đoàn lớn với 6000 nhân viên, tổng tài sản lên 2,2 tỷ NDT, công suất lốp hàng năm 6 triệu bộ, trong đó có 2 triệu bộ radial.

Doanh nghiệp chủ yếu và ban đầu của hãng là Rongcheng Rubber Factory (thành lập năm 1976) có 67 nhân viên, tổng vốn tài sản 480.000 NDT, sản lượng lốp hàng năm dưới 10.000 bộ. Sau 20 năm phát triển sản lượng và lợi nhuận của hãng tăng 45,5% và 41,8% tương ứng.

Kể từ năm 1988, doanh nghiệp này đã là 1 trong 500 doanh nghiệp hàng đầu sau 9 năm hoạt động, và là một trong 10 nhà sản xuất lốp hàng đầu Trung Quốc. Từ 1995 đã được xếp hạng trong 156 doanh nghiệp công nghiệp lớn nhất Trung Quốc. Năm 1996, nó được xếp thứ 32 trong 50 nhà sản xuất lốp hàng đầu thế giới và nhận chứng chỉ ISO 9001.

Trước nhu cầu của thị trường lốp toàn cầu, ngay từ kế hoạch 5 năm lần thứ 8 của Trung Quốc (kết thúc năm 1995) hãng đã đưa ra kế hoạch phát triển sản xuất lốp radial hai giai đoạn: giai đoạn 1 hoàn thiện đã đưa công suất lốp radial bán thép hàng năm lên 2 triệu bộ (gồm lốp ô tô con và xe tải nhẹ, hơn 40 kiểu lốp radial đã được sản xuất trong các năm 1990, 1992, 1994. Giai đoạn 2 được hoàn thiện với cơ sở sản xuất lốp radial bố toàn thép mới công suất 200.000 bộ/ năm. Sang kế hoạch 5 năm lần thứ 9 (kết thúc năm 2000) nhờ thực hiện dự án kỹ thuật, công suất lốp radial của hãng là 3 triệu bộ/ năm. Công suất lốp radial kế hoạch 5 năm lần thứ 10 hiện nay của hãng là 7 triệu bộ/ năm.

- Yellow Sea Tire tại Qingdao Trung Quốc

Có hơn 70 năm kinh nghiệm, sản phẩm lốp của Yellow Sea hiện được phân phối trên 5 châu lục dưới thương hiệu Yellow Sea và Gulf. Luôn luôn đi hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất lốp ở Trung Quốc.

Dự án mở rộng công suất lốp radial bắt đầu từ năm 1999 đã được áp dụng công nghệ của Uniroyal Goodrich Tyre Company thuộc tập đoàn Michelin Pháp.

Các loại lốp xe tải nặng, xe bus, xe con (cả bias và radial) của hãng dưới các thương hiệu Yellow Sea và Gulf đã được công nhận và đã nhiều giải thưởng về chất lượng, hiệu quả trên thị trường thế giới.

Công ty sản xuất lốp Nakang Rubber Tire Co. Đài Loan

Có đại bản doanh tại Đài Bắc Đài Loan, là tập đoàn chuyên hoạt động trong các lĩnh vực: sản xuất, mua, bán xuất khẩu lốp cao su và các sản phẩm cao su khác. Thương hiệu của hãng là Nakang và Sonar. Thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, Châu âu và các nước khác.

Nakang có kinh nghiệm sản xuất lốp ô tô từ hơn 40 năm qua. Kế thừa công nghệ sản xuất từ một trong những hãng sản xuất lốp Nhật Bản trước đây, Nakang ngày nay cho ra các sản phẩm lốp chất lượng cao. Hiện hãng đang cung cấp lốp cho thị trường OE nhiều hãng sản xuất ô tô hàng đầu thế giới. Năm 1994 hãng đã nhận chứng chỉ Q1 cho và ISO 9001.

Dưới đây là một số mã hãng lốp radial thép Nakang:

Lốp radial hiệu quả cao - EX500

Đây là loại lốp có hiệu quả định hướng nhờ sử dụng vi tính, chạy xe tạo tiếng ồn thấp. Rãnh lốp được thiết kế tăng độ ổn định và an toàn khi chạy tốc độ cao và rút nước nhanh khi chạy trên đường ướt.

Lốp radial hiệu quả cao - EX601

Có độ bám dính mặt đường và dễ điều khiển khi xe chạy là đặc điểm của loại lốp EX601. Loại lốp này phù hợp với các loại xe ca, xe thể thao, đặc trưng lằn gai lốp đảm bảo lốp gây tiếng ồn thấp.

Lốp radial xe ca - NE826

Loại lốp này hết sức phù hợp với xe chạy trên cả đường ướt hoặc khô với tốc độ cao.

Lốp radial xe ca - N809K

Lốp xe ca chạy tốc độ lớn an toàn, tiện lợi nhờ có trụ đỡ sườn lốp.

Lốp radial cho xe tải - N810

Nhờ cấu trúc 8 lớp sợi mành cứng, lốp radial này có độ bền cao, không gây tiếng ồn lớn cũng như an toàn khi chạy nhanh và có độ rút nước tốt khi chạy trên đường ướt.

Lốp radial xe đa dụng - N830

Được sản xuất để phù hợp với loại xe chạy cả trên đường lẫn dưới hầm lò, loại lốp này có cấu trúc khối được trang bị đai thép chịu lực rất dễ điều khiển khi chạy xe với sự ổn định cao. Sườn lốp có cấu trúc đảm bảo hấp phụ độ rung, giúp xe lái an toàn và tiện lợi.

* Khả năng cung cấp nguyên liệu - thiết bị sản xuất lốp của một số công ty Trung Quốc

- Qingdao Lintec Industrial Co. Ltd

Là hãng chuyên sản xuất dây mành thép dành cho lốp radial. Kể từ khi nhu cầu sản xuất lốp radial tăng cao, vai trò của dây mành thép dành cho lốp radial cũng tăng cao.

Dự đoán sản lượng lốp năm 2005 ở Trung Quốc là 125 triệu bộ, trong đó có 75 triệu bộ lốp radial sẽ làm cho nhu cầu về mành thép tăng cao lên 135.000 tấn. Vào năm 2010, sản lượng mành thép chắc chắn sẽ là 206.000 tấn. Nhu cầu mành thép tăng tại Trung Quốc cũng tương tự như mức tăng nhu cầu thế giới (với tốc độ 3 - 4% năm). Ngoài Lintec, hãng Jiangsu Xing Da Steel Tyre Trung Quốc cũng là nơi cung cấp mành thép lớn phục vụ sản xuất lốp radial. Riêng Tianjin Saixiang Technology Co. Ltd (TST) tại thành phố cảng Bắc Trung Quốc, đã ký hợp đồng cung cấp trang thiết bị sản xuất lốp radial xe tải cho 86 nhà máy khắp toàn cầu thuộc công ty sản xuất lốp khổng lồ Michelin Pháp.

Trước đây, TST đã là công ty được Michelin đặt cung cấp thiết bị khuôn sản xuất lốp radial xe tải. Hợp đồng này là cơ hội đầu tiên cho TST cung cấp thiết bị cho các cơ sở toàn cầu của Michelin và chuyến giao hàng đầu tiên đã được thực hiện vào 8/2003.

TST là công ty công nghệ cao chuyên cung cấp các thiết bị công nghiệp phục vụ ngành sản xuất lốp radial, cao su và chất dẻo của Trung Quốc.

Công ty đã thực hiện được 13 trong số 36 dự án phát triển trang thiết bị sản xuất lốp radial xe tải cùng công nghệ sản xuất. Đây là những dự án cải tiến công nghệ chủ chốt của Trung Quốc phục vụ kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001 - 2005).

Sản phẩm của TST tại Trung Quốc đã phần nào thay thế được các mặt hàng có truyền thống nhập khẩu của nước này, đồng thời góp phần hỗ trợ lớn cho ngành sản xuất lốp radial tại đây phát triển.

- Anhui Kaiyuan Tyre Co. Ltd là một trong các doanh nghiệp được nhà nước hỗ trợ vốn. Tổng tài sản của hãng hiện nay là 67,5 triệu USD. Tổng sản lượng lốp của hãng đứng thứ 4 toàn quốc(theo xếp hạng năm 1999) sản phẩm mang thương hiệu "Kaiyuan" với sức cạnh tranh lớn. Hãng hiện đang hợp tác với Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc triển khai nghiên cứu cơ - động học về lốp radial. Công ty có dự án mở rộng công suất từ 300.000 lên 600.000 bộ lốp radial không săm và sẽ đứng ở hàng thứ 3 về năng suất sản xuất lốp radial ở Trung Quốc. Tổng vốn đầu tư dự án 399,9 triệu NDT, dự kiến hoàn vốn trong 3 năm. Hiện khối lượng lốp xuất khẩu của hãng đang ngày càng tăng sang Trung Đông và Mỹ la tinh.

Một số dự án sản xuất lốp radial đang tìm kiếm đầu tư quốc tế

1. Dự án đầu tư sản xuất radialcủa Công ty Wuxi Rubber Group Co. ltd có tên "Một triệu bộ lốp radial bán thép/ năm" đang kêu gọi hợp tác đầu tư quốc tế dưới dạng liên doanh với số vốn dự định là 15 triệu USD (bên Trung Quốc 7.650.000 USD về đất và nhà xưởng, bên nước ngoài 7.350.000 USD về thiết bị và công nghệ).

Tỷ lệ xuất khẩu dự kiến là 15%.

Thời gian xây dựng cơ sở sản xuất 2 năm.

Hiện tại hãng Wuxi Rubber Co. Ltd là một hãng có cơ sở sản xuất thuộc diện tiên tiến ở Trung Quốc. Số nhân viên 2600 người; Sản phẩm chính hàng năm là lốp xe máy 6 triệu bộ/ năm; lốp xe đạp 150 triệu bộ/ năm lốp nông nghiệp 600.000 bộ năm. Tổng tài sản và tài sản cố định: 711 triệu NDT, trong đó có 376 triệu NDT thuộc tài sản cố định. Doanh thu: khoảng 300 triệu NDT/ năm; Tỷ lệ xuất khẩu 28%.

2. Dự án sản xuất lốp xe tải nặng của Chuanxiang Group Co. có cơ sở đặt tại tỉnh Tứ Xuyên.

- Chi tiết dự án: xây dựng cơ sở sản xuất lốp radial bố toàn thép cho xe tải nặng, công suất hàng năm 300.000 bộ, trên cơ sở trang thiết bị tiên tiến của nước ngoài.

Tổng đầu tư dự kiến của dự án 63 triệu USD, phần vốn đầu tư phía đối tác nước ngoài sẽ theo đàm phán cụ thể. Dự kiến tỷ suất lợi nhuận đầu tư 22,3% và hoàn vốn trong 6,62 năm.

3. Một số dự án khác:

- Dự án sản xuất lốp tại Ngân Xuyên:

Hãng Grandtour Tyre Pte Ltd (Grandtour) Singapore một tập đoàn xuyên quốc gia của Singapore với hơn 80 chi nhánh quốc tế chuyên sản xuất lốp đã đầu tư một nhà máy sản xuất lốp radial bán thép tại Ngân Xuyên (Trung Quốc) với công suất 10 triệu bộ/ năm (hợp đồng ký ngày 28/3/2004). Công ty Singapore sẽ đầu tư hơn 1 tỷ NDT (1 USD = 8,2770 NDT) vào dự án. Đây là một kỷ lục về đầu tư nước ngoài tại Ngân Xuyên.

- Liên doanh sản xuất lốp tại Giang Tô

Là liên doanh giữa hãng sản xuất lốp ô tô Kenda Rubber (Đài Loan) với Cooper Tyre & Rubber (Mỹ)tại Trung Quốc có tên Kenda Cooper Co. đặt tại tỉnh Giang Tô (Trung Quốc) với nhà máy sản xuất lốp radial cho xe tải dự kiến khởi công vào nửa đầu năm 2004. Mỗi bên liên doanh sẽ góp 750.000 USD.

- Xây dựng nhà máy sản xuất lốp tại Vô Tích

Hãng Bridgestone (Nhật Bản) cũng thông báo kế hoạch xây dựng nhà máy sản xuất lốp radial tại Vô Tích(Trung Quốc) vào 9/2004. Bridgestone cùng thông báo kế hoạch nâng công suất sản xuất lốp radial tại nhà máy đặt ở Thẩm Dương lên 3 lần, đạt mức 90.000 bộ, trong tháng 4/2004 với tổng số đầu tư lên tới 20 tỷ yên (187 triệu USD).

- Xây dựng nhà máy lốp tại Hàng Châu

Hãng Yokohama (Nhật Bản) cũng dự kiến nâng gấp 2 sản lượng lốp radial cho xe con tại nhà máy ở Hàng Châu (Trung Quốc) đạt mức 1,4 triệu bộ lốp/ năm vào cuối năm 2004. Sumitomo Rubber Industries cũng bắt đầu cho sản xuất lốp radial tại nhà máy đặt ở Changsu cung cấp lốp cho thị trường Trung Quốc và xuất khẩu.

Các nhà sản xuất lốp toàn cầu đang xúc tiến các hoạt động sản xuất của mình tại Trung Quốc nhằm đáp ứng nhu cầu lốp đang tăng nhanh tại nước này. Chi phí lao động thấp tại đây cũng là một nguyên nhân khuyến khích các nhà sản xuất lốp xúc tiến các hoạt động xuất khẩu. Nhu cầu lốp radial xe con tăng nhanh tại Trung Quốc, con số 6 triệu bộ vào năm 2003 sẽ còn tiếp tục tăng trưởng với mức 20% hàng năm. Nhu cầu lốp radial xe bus và xe tải tăng tới 80 triệu bộ vào năm 2003 sẽ có triển vọng tăng với tốc độ 40% vào các năm tiếp theo.

4.4. Thị trường và đầu tư lốp Ấn Độ

4.4.1. Giới thiệu chung về sự phát triển ngành công nghiệp cao su ở Ấn Độ

Kể từ khi bắt đầu sản xuất các sản phẩm cao su vào năm 1921, ngành sản xuất các sản phẩm cao su của Ấn Độ đã được duy trì, đổi mới và phát triển không ngừng. Ngoài việc đáp ứng đủ nhu cầu trong nước ngành còn góp phần vào thị trường xuất khẩu cạnh tranh. Bước sang thế kỷ 21 ngành đã có những dự án phát triển lớn.

Hiện tại Ấn Độ có hơn 6.000 cơ sở sản xuất, trong đó có 300 cơ sở vừa và 5600 cơ sở nhỏ, đã sản xuất ra 35.000 loại sản phẩm cao su, thu hút 400.000 lao động trong đó có khoảng 22.000 nhân công kỹ thuật cao. Vốn quay vòng của ngành này đạt 200 tỷ rupi, trong đó có 40 tỷ thuế và các khoản thu khác. Ngành cao su Ấn Độ đóng vai trò chủ yếu cho nền kinh tế của nước này.

Ngành hàng cao su của Ấn Độcó ưu thế là có nguồn nguyên liệu trong nước dồi dào như cao su tự nhiên, cao su tổng hợp, cao su tái chế, muội than, hóa chất dành cho cao su, axit béo, tơ rayon, sợi nilon v.v... Ngoài ra nhân công rẻ, thị trường trong nước lớn cũng là điều kiện thuận lợi cho ngành phát triển.

Ấn Độ hiện đang sản xuất được 631.000 tấn cao su tự nhiên/ năm, dự kiến tăng lên hơn 1 triệu tấn/ năm trong vài năm tới. Sự bùng nổ ngành sản xuất xe cộ các loại đang làm tăng nhu cầu phát triển lốp tại Ấn Độ.

Ấn Độ hiện đang là nước sản xuất cao su tự nhiên lớn thứ 3 thế giới, tiêu thụ ở mức thứ tư thế giới, đồng thời đứng ở vị trí tiêu thụ cả cao su tự nhiên và tổng hợp thứ 5 thế giới. Ấn Độ cũng là nước sản xuất cao su tái chế lớn nhất thế giới. Thực tế, Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước duy nhất trên thế giới hoàn toàn có khả năng tự tiêu thụ nội địa các sản phẩm cao su, chỉ xuất khẩu sản phẩm dư thừa, hiện mức tiêu thụ cao su tính theo đầu người hàng năm ở Ấn Độ là 800g, trong khi đó 12 - 14kg là mức ở Nhật Bản, Mỹ và châu âu.

Ngành cao su Ấn Độ chủ yếu tập trung vào cả hai khu vực: sản xuất lốp và các sản phẩm không phải lốp. Hiện Ấn Độ sản xuất cả lốp bias và lốp radial.

Các sản phẩm cao su xuất khẩu của Ấn Độ chủ yếu là lốp bias và săm, cùng các sản phẩm khác đi 85 nước (Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Italia, Ảrập Thống nhất, Ảrập Xêút, Phi châu, Afganistan, Bangladesh v.v...)

Trong khi mức tiêu thụ cao su ở các nước phương Tây bão hòa, khu vực châu Á- Thái Bình Dương giảm bớt thì công nghiệp cao su Ấn Độ lại dự kiến có tốc độ phát triển tới 8%/ năm trong thập kỷ tới, qua đó có thể làm tăng mức tiêu thụ cao su trên đầu người từ 0,8 lên 14 kg/ năm.

4.4.2. Ngành sản xuất lốp ở Ấn Độ

Ngành sản xuất lốp ở nước này đang chuyển biến khá chậm chạp từ sản xuất lốp bias sang loại radial. Ngành này có mối liên kết chặt chẽ với sự phát triển của ngành sản xuất ô tô, nông nghiệp, v.v...

Thị trường lốp toàn cầu hiện có trị giá khoảng 70 tỷ USD thì Ấn Độ chỉ góp khoảng 100 triệu rupi (2,2 triệu USD). Các nhà sản xuất lốp Ấn Độ đang có chiến lược đổi mới công nghệ sản xuất, hợp nhất, liên minh các hãng theo xu hướng chung của thị trường toàn cầu.

Thực tế tại thị trường trong nước thì lốp radial mới chỉ được sử dụng vào xe con còn các loại xe còn lại vẫn dùng lốp bias. Nguyên nhân là vì giá lốp bias thấp và có thể dễ đắp lại. Ngoài ra, đường xá xấu ở Ấn Độ cũng làm hạn chế việc sử dụng lốp radial hạn chế.

Thị trường lốp xuất khẩu Ấn Độ chủ yếu lốp bias sang Mỹ (chiếm gần 30% mặt hàng xuất khẩu nước này), đang bị đe dọa bởi Trung Quốc và Nhật Bản có giá cạnh tranh thấp hơn. Hơn nữa các nhà sản xuất lốp Ấn Độ cũng đang bị đe dọa bởi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và Hàn Quốc (lốp Trung Quốc giá thấp hơn lốp Ấn Độ 30%; lốp Hàn Quốc nhập khẩu vào Ấn Độ chỉ bị đánh thuế 30% trong khi nhập từ nước khác mức thuế là 35%).

Các quy định mới do Chính phủ Ấn Độ ban hành trong những năm gần đây ở Ấn Độ không hề nương nhẹ cho các nhà sản xuất lốp: thuế nhập khẩu nguyên liệu cao, cấm nhập lốp đã sử dụng, thuế nhập khẩu thép và sợi mành polyeste không được miễn giảm, lốp nhập từ Hàn Quốc được giảm thuế, v.v... đã khiến cho ngành sản xuất lốp Ấn Độ phải thực hiện chiến lược liên minh giữa các nhà sản xuất trong nước với nước ngoài để tiếp cận công nghệ tân tiến và mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Các công ty Ấn Độ đang tìm kiếm liên kết với thị trường lắp ráp ô tô (OE) để ổn định lâu dài. Ví dụ: Bridgestone đã liên kết với Tatas cung cấp lốp cho xe "Indica". Công ty Bridgestone đã vào thị trường Ấn Độ nhờ liên kết với Công ty Associated Cement, xây dựng nhà máy sản xuất ở Kheda - Madhya Pradesh.

Liên doanh Hyundai với Ấn Độ thông báo xây dựng nhà máy ở Sriperumbudur - Tamil Nadu. Các công ty đa quốc gia khác cũng vào thị trường Ấn Độ qua liên doanh Michelin - J.K Tyres và Pirelli Italia - Brirla Tyres.

Michelin và Bridgestone đang trong cuộc đua tranh chia xẻ thị trường lốp xe tại Ấn Độ. Thị trường có nhu cầu trị giá 2 tỷ USD, tăng trưởng 12 - 15% hàng năm này cũng đang được các hãng lốp nội địa như Apollo, MRF, JK, Birla và Ceat tìm cách chi phối. Khi được biết Michelin đã mở đại lý bán hàng và marketing tại Ấn Độ, Bridgestone liền thiết lập và mở rộng hoạt động, vốn đã khá sôi nổi của mình tại đây. Kết quả là họ đã mở rộng được 50% công suất lốp và đưa ra sản phẩm mới cho thị trường này.

Bridgestone cho ra mắt tại Ấn Độ loại lốp radial dành cho xe tải nhẹ, xe bus và xe tải nặng. Lúc đầu các loại lốp này được nhập khẩu từ nhà máy của Bridgestone tại Thái Lan, sau đó hãng này đã đưa ra kế hoạch sản xuất lốp radial xe tải nhẹ này ở nhà máy của họ tại Indore đồng thời mở rộng công suất lên 50%. Cuối năm 2004, nhà máy sản xuất radial tại Indore sẽ đi vào hoạt động với công suất 370.000 bộ/ tháng so với công suất 250.000 bộ hiện tại. Riêng về lốp radial xe bus và tải nặng thì Bridgestone vẫn sẽ tiếp tục đưa vào Ấn Độ qua con đường nhập khẩu từ nhà máy của họ ở nước khác.

Mặc dù đang có nhiều động thái để phát triển, ngành sản xuất lốp radial nói chung của Ấn Độ cho tới nay chưa thật sự khởi sắc, sự chênh lệch chi phí sản xuất lớn giữa radial và bias là một trong các nguyên nhân. Tuy nhiên, trong thị trường lắp ráp ô tô, mức sử dụng lốp radial đã tăng nhanh không ngừng: 65% ô tô sản xuất ra tại Ấn Độ được lắp lốp radial. Thế hệ ô tô mới được lắp lốp radial và sự giảm chênh lệch giá giữa lốp radial và bias sẽ làm cho nhu cầu sử dụng lốp radial ở nước này trong tương lai tăng nhanh hơn. Trong khi chiếm tỷ lệ lớn ở thị trường lắp ráp ô tô du lịch, thì riêng thị trường lốp xe tải và xe bus, lốp radial mới chỉ chiếm có 2%. Nguyên nhân ở đây là do đường xấu, phương tiện chuyên chở truyền thống vốn có hiện còn thô sơ.

Tuy thế, chủ trương đầu tư cải tạo đường xá và xây dựng hạ tầng cơ sở mới của chính phủ Ấn Độ gần đây đã mở ra triển vọng radial hóa ngành lốp Ấn Độ, hiện đang do các hãng Bridgestone JK Industries và Goodyear ngự trị (Goodyear vừa đưa ra loại lốp không săm ở Ấn Độ). Các hãng sản xuất lốp khác ở đây cũng đang bị thu hút vào cái đích sản xuất lốp radial.

4.4.3. Hoạt động của một số cơ sở sản xuất lốp ở Ấn Độ

* Các doanh nghiệp nhỏ và vừa(SMEs):SMEs sản xuất lốp ở Ấn Độ đang đứng trước mối đe dọa toàn cầu hóa và radial hóa trong lĩnh vực lắp ráp ô tô tại Ấn Độ. Thực tiễn sản lượng lốp năm 1997 - 1998 từ 42,6 triệu tăng lên 60,5 triệu năm 1999 - 2000, trong đó lốp radial tăng từ 15,8 triệu lên 38,1 triệu tương ứng đã làm các SMEs phải nỗ lực giảm chi phí sản xuất lốp radial và đảm bảo chất lượng hơn nữa. R & D về công nghệ lốp radial đang là mục tiêu lâu dài của các công ty này.

Trong làn sóng radial hóa lốp toàn cầu, các công ty đa quốc gia đã không còn sản xuất lốp bias, đây là cơ hội vàng cho các nhà sản xuất lốp Ấn Độ - là nơi có chi phí nhân công thấp đồng thời dư thừa công suất lốp có thể xuất khẩu lốp bias giá thấp (bằng 1/3 giá thị trường quốc tế) và được miễn thuế xuất khẩu. Trước mắt, các công ty SMEs ở Ấn Độ đang đề ra mục tiêu nâng cấp cơ sở sản xuất của mình theo hướng sau:

- Thay đổi thiết kế gai lốp và chất liệu chế tạo lốp.

- Thay đổi cấu trúc để lốp phù hợp với quy cách khách hàng yêu cầu.

- Cần có xưởng tái chế (đắp lại) lốp radial (nhiều loại lốp radial ở nước ngoài loại bỏ sớm có thể sử dụng ở Ấn Độ).

- Tìm được công nghệ tiền xử lý kéo dài tuổi thọ lốp bias đắp lại.

Kết hợp các nguồn lực lại, SMEs có thể tận dụng được cơ hội phát triển của thị trường lốp radial. Ví dụ, lợi nhuận từ việc tái chế lốp radial có thể sớm được ngành vận tải nhận thức ra.

Xu hướng hợp nhất, hợp tác và mua lại cổ phần hoặc mua đứt công ty đang ngày càng tăng trong ngành sản xuất lốp ở Ấn Độ.

* Hãng Modi Rubber(MODI . BO)

Thành lập năm 1971, Modi Rubber (MRL) sau nhiều năm đã thành tập đoàn sản xuất lốp ô tô lớn. Hãng đã tham gia hợp tác kỹ thuật với công ty sản xuất lốp Continental AG chuyên sản xuất lốp radial bố toàn thép cho xe tải.

Hãng có nhà máy sản xuất lốp radial hiện đại nhất châu Áđặt tại tỉnh Modipuram (Ấn Độ). Hãng hiện tham gia 12,4% thị phần xuất khẩu, giành danh hiệu "Capexil" về hiệu quả xuất khẩu cao.

MRL xuất khẩu cho các nước như Việt Nam, Philippin, Singapore, Mỹ, Anh, Bangladesh, Afganistan, Siria Srilanca và các nước châu Mỹ La tinh. Tuy vậy thị trường xuất khẩu sang Pakistan và Afganistan đang gặp cạnh tranh với Trung Quốc. Hãng đã xây dựng các cơ sở sản xuất săm ô tô tại Partapur và mở rộng sản xuất lốp radial dành cho xe ca và xe tải nhẹ bằng công nghệ tân tiến của đối tác. MRL đã thành công trong việc đưa ra sản phẩm lốp radial cho xe tải và xe tải nhẹ cũng như lốp xe cho ủi loại vừa. Hiện hãng đang giới thiệu các sản phẩm lốp mới dành cho xe tải nặng và loại xe tải nặng chuyên dùng khác dưới nhãn hiệu "Multilife 2000" và "Maraton 2000". Hãng đang đặt kế hoạch khai thác khả năng cung cấp lốp công nghệ cao dành cho xe tải bình thưòng tại Nam âu và Tây âu để tăng cao hơn nữa thị phần ở vùng này.

* JK Tyre (hợp nhất hai hãng lốp JK Industries và Vikran Tyres Ltd năm 1997)

Xuất xứ là hãng sản xuất lốp lâu đời ở Ấn Độ, đại bản doanh tại Niu Delhi. Năm tài chính 2002 kết thúc tháng 11/2003 thu nhập lốp của hãng đạt 20,77 tỷ rupi, thu mức lợi nhuận sản xuất 1,97 tỷ rupi/ năm. Thương hiệu lốp và săm của hãng là "JK Tyre". Đây là hãng đi đầu trong lĩnh vực radial hóa lốp ở Ấn Độ. JK Tyre hiện là hãng duy nhất ở Ấn Độ sản xuất loại lốp radial bố thép tốc độ cao "T" và "H". J.K luôn theo đuổi chính sách hiện đại hóa liên tục đổi mới và mở rộng cơ sở sản xuất để duy trì vị thế thị trường. Thị trường lốp của J.K ở Ấn Độ là lốp lắp ráp ô tô (OE) và lốp thay thế. Ngoài cung cấp thị trường trong nước, JK hiện có khách hàng ở 45 nước ở Mỹ, châu Phi, Trung Đông và Đông Nam Á. Hãng hiện có ba nhà máy sản xuất lốp đặt tại Rajasthan, Madhya và Karnataka. Trung tâm R & D "HASETRI" là nơi nghiên cứu và thực hiện các dự án công nghệ sản xuất lốp mới. JK là nhà sản xuất lốp xe tải, bus lớn nhất Ấn Độ (74% tổng doanh thu ngành lốp nước này).

JK đang đàm phán với Continental AG bán công nghệ sản xuất mới và chia xẻ cổ phần (JK đang có ý định bán hơn 15% tài sản, giữ lại 40%, phần còn lại đồng sở hữu hai bên) vì trong xu hướng mở rộng sản xuất hiện hãng đang cần tiền để trả nợ ngân hàng và mở rộng công suất cạnh tranh với các hãng sản xuất lốp nước ngoài tại Ấn Độ.

Các hãng cạnh tranh chính của JK hiện nay là MRF và Apollo Tyres:

* Goodyear Indiađưa ra thị trường loại lốp radial không săm dành cho xe con đã làm cho hãng này trở thành nhà sản xuất lốp đầu tiên ở Ấn Độ có mặt hàng lốp loại này dành riêng cho xe con.

Loại lốp này của hãng hiện đang mang thương hiệu GPS-2 và Eagle NCT 3 phù hợp với các loại xe nhỏ, vừa cũng như xe đời mới sản xuất tại Ấn Độ. Mặt hàng lốp radial không săm của hãng được sản xuất tại nhà máy Aurangabad của South Asia Tyre Ltd (một chi nhánh của Goodyear Tire & Rubber Co của Mỹ).

Sự ra đời của loại lốp radial không săm này có thể cải thiện tiềm năng xuất khẩu của Goodyear India và củng cố thương hiệu của hãng này.

Theo phát ngôn của hãng, lốp radial không săm không đắt hơn lốp xe có săm là bao nhưng tại Ấn Độ chiến lược triển khai mặt hàng này lại phụ thuộc vào quan niệm của người tiêu dùng.

* Hãng Ceat (thành phần của Tập đoàn RPG) đang đặt kế hoạch thành lập nhà máy sản xuất lốp radial cho xe tải với số vốn đầu tư lên tới 2 - 2,5 tỷ rupi, dự kiến hoàn thiện trong 2 - 3 năm tới, với công suất 50 - 60.000 bộ/ tháng, đồng thời đầu tư thêm 750 - 800 triệu rupi để mở rộng công suất nhà máy đang sản xuất lốp radial cho xe con.

Theo phát ngôn của Ceat, trước đây hãng này đã nhập lốp radial cho xe tải của Trung Quốc về bán thử trong giai đoạn nghiên cứu thị trường năm 2003 - 2004.

Thực tế lốp radial bền hơn lốp bias 35 - 40% trong khi chi phí cao hơn 15-20%. Sự phát triển hạ tầng cơ sở đường xá là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới việc chuyển sang sản xuất lốp radial. Hiện Ceat đang tham gia 6% thị phần trong thị trường lốp radial cho xe con tại Ấn Độ.

Trong tương lai khi nhà máy mở rộng sản xuất lốp xe ca đi vào hoạt động công suất lốp radial xe con tại Ấn Độ sẽ đạt con số 1 triệu bộ/ năm.

Ceat đã tăng thị phần lốp mô tô từ 9% lên 20% năm 2003 - 2004 và củng cố vị thế sản xuất lốp xe mô tô Scooter.

Về lĩnh vực lốp radial không săm, Ceat vừa đưa thương hiệu mới "Spider". Theo nhận định của hãng thị phần của lốp radial không săm cho xe ca ở Ấn Độ hiện là 10 - 15% và trong vài năm tới có triển vọng tăng lên 30 - 35%. Hãng đang lập kế hoạch tăng thị phần của sản phẩm này.

Thực tế hiện nay ngành lốp Ấn Độ đang bị chi phối bởi các công ty MRF, Apollo Tyres, JK Tyres và Ceat.

Các công ty quốc tế lớn như Goodyear và Bridgestone cũng có một số nhà máy tại đây, đang đóng vai trò chi phối ngày càng mạnh mảng lốp radial xe con. Các công ty nội địa Ấn Độ lại có thế mạnh về thị trường lốp thay thế cho xe tải và bus.

5. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LỐP RADIAL TẠI VIỆT NAM

Theo thống kê của Bộ Công nghiệp, số lượng xe ô tô đăng ký lưu hành tại Việt Nam, tình hình sản xuất và nhu cầu sử dụng lốp radial của một số nước, trong đó có Việt Nam như sau:

Bảng 9: Tình hình xe ô tô đăng ký lưu hành tại Việt Nam

Năm 2000

Năm 2001

Xe con (PC)

145.900

176.000

Xe tải nhẹ (LT)

201.000

221.200

Xe tải - xe buýt (TB)

70.000

74.000

Tổng cộng

416.900

471.200

Bảng 10: Tình hình sản xuất lốp radial ở một số nước (% so với tổng số lốp)

Năm 1995

Năm 1998

Năm 2002

Mỹ

100%

100%

100%

Ấn Độ

30%

50%

70%

Trung Quốc

10%

30%

50%

Malaysia

-

80%

90%

Việt Nam

0%

0%

0

Bảng 11: Nhu cầu sử dụng lốp radial tại Việt Nam

Năm 2000

Năm 2001

Năm 2002

Nhu cầu lốp radial

300.000

336.000

370.000

Theo đánh giá, nhu cầu sử dụng lốp radial tại Việt Nam đang ngày càng tăng mạnh. Tuy nhiên công nghiệp sản xuất lốp radial mới chỉ ở giai đoạn khởi động.

Năm 2003, Công ty Công nghiệp Cao su Miền Nam (CASUMINA) tự nghiên cứu công nghệ và sản xuất thử nghiệm thành công lốp ô tô radial cỡ vành 13 - 14 dùng cho xe du lịch. Lốp radial của CASUMINA đã được chạy thử trên các loại đường, đồng thời được chào hàng tại nước ngoài và đã được công nhận có tính năng tương đương với các loại lốp radial cùng loại nhập ngoại.

Trên cơ sở sản xuất thử thành công, CASUMINA đã đầu tư một dây chuyền sản xuất lốp radial công suất nhỏ (dây chuyền số 1) tại Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai) để có sản phẩm tiếp cận thị trường. Năm 2004, Công ty tiếp tục đầu tư dây chuyền sản xuất lốp radial, cỡ vành 13 - 14, công suất 300 nghìn lốp/ năm(dây chuyền số 2) cũng tại Biên Hòa. Dự kiến dây chuyền này sẽ hoạt động trong năm 2005. CASUMINA có kế hoạch tiếp tục nghiên cứu đầu tư sản xuất lốp radial cỡ vành lớn dùng cho xe tải và xe bus.

Như vậy ở nước ta hiện nay, ngoài sản lượng 100.000 lốp radial bố thép vành 13 dành cho xe con do CASUMINA dự định đưa ra thị trường vào cuối năm 2004, Việt Nam vẫn đang phải nhập hầu hết các loại lốp radial để đáp ứng thị trường lốp thay thế trong nước, hiện cần khoảng trên 1 triệu lốp/ năm. Các công ty liên doanh như Inoue Việt Nam, Yokohama Việt Nam có sản xuất lốp radial cho xe con và xe tải nhẹ phục vụ công nghiệp lắp ráp ô tô trong nước song năng lực còn rất thấp. Vấn dề đầu tư sản xuất lốp radial vẫn đang là một bài toán đang được cân nhấc thận trọng trong kế hoạch triển khai đầu tư các dự án trọng điểm của Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam. Ngoài dự án đang thực hiện tại CASUMINA, còn 2 dự án nữa có liên quan đến sản xuất lốp radial đang được khởi động là Dự án sản xuất 1 triệu lốp radial/ năm của Công ty Cao su Đà Nẵng (DRC) và Dự án sản xuất lớn lốp radial (dự kiến công suất 2 triệu lốp radial/ năm) do Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) trực tiếp đầu tư./.

Sponsor links (Provided by VIEPortal.net - The web cloud services for enterprises)
Thiết kế web, Thiết kế website, Thiết kế website công ty, Dịch vụ thiết kế website, Dịch vụ thiết kế web tối ưu, Giải pháp portal cổng thông tin, Xây dựng website doanh nghiệp, Dịch vụ web bán hàng trực tuyến, Giải pháp thương mại điện tử, Phần mềm dịch vụ web, Phần mềm quản trị tác nghiệp nội bộ công ty,