Danh nhân Việt Nam sinh năm Sửu

10:20 SA @ Thứ Ba - 30 Tháng Ba, 2021

Nhân dịp xuân Tân Sửu 2021, Ban biên tập Tạp chí Công nghiệp hoá chất xin tổng hợp và gửi tới quý độc giả những thông tin thú vị liên quan đến Danh nhân sinh năm Sửu nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.

* Phùng Hưng, sinh năm Tân Sửu 761, quê ở làng Đường Lâm, nay thuộc Ba Vì, Hà Nội. Sinh thời, Phùng Hưng là người khoẻ mạnh và dũng lược. Chính ông đã phát động và lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa lớn, đập tan chính quyền đô hộ của nhà Đường, xây dựng nền độc lập tự chủ trong một thời gian khá dài, được nhân dân suy tôn là Bố cái Đại vương, mất năm 41 tuổi (802).

* Lê Đại Hành (Lê Hoàn), sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Sửu (10/8/941), là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005. Lê Đại Hành là ông vua có tài. Dẹp nội loạn, khéo bang giao, giữ thể diện Quốc gia. Sử gia Lê Văn Hưu đã viết: Lê Đại Hành giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được (Đại Việt sử ký toàn thư).

* Lý Thường Kiệt, sinh năm Kỷ Sửu (1019) - là quốc tính vua ban. Ông tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm Kỷ Sửu, là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ, cháu 6 đời của Ngô Quyền, người phường Thái Hoà, thành Thăng Long tức Hà Nội ngày nay. Ông là người có công phá Tống bình Chiêm, được ban “quốc tính”, mang họ vua, phong làm Phụ quốc thái phó, thiên tử nghĩa đệ, phụ quốc thượng tướng quân, tước Khai quốc công, sau thêm tước Thái úy. Tháng 6 năm 1105, ông mất, thọ 87 tuổi. Vua Lý Nhân Tông ban tước Việt quốc công. Ông cũng là tác giả của áng thơ bất hủ: “Nam Quốc Sơn Hà” - được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta.

* Trần Quang Khải, sinh năm Tân Sửu 1241. Ông là con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông; là nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà thơ lớn của dân tộc. Dưới triều Trần Thánh Tông (1258 - 1278), Trần Quang Khải được phong tước Chiêu minh Đại vương. Năm 1274, ông được giao giữ chức Tướng quốc Thái úy. Năm 1282, dưới triều Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải được cử làm Thượng tướng Thái sư, đứng đầu triều đình. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai sau Trần Quốc Tuấn có nhiều công lao lớn trên chiến trường. Ông còn là một nhà thơ có vị trí không nhỏ trong văn học sử Việt Nam, với tâm hồn thơ khoáng đạt, gần gũi, gắn bó với cuộc sống bình dị của đất nước nhưng cũng không kém phần hào hùng. Bài thơ “Tụng giá hoàn kinh sư” được ông viết sau chiến thắng Chương Dương độ vào tháng 6/1285 - chiến thắng được coi là lớn nhất lúc bấy giờ.

* Nguyễn Trung Ngạn, sinh năm Kỷ Sửu 1289, quê làng Thổ Hoàng, Ân Thi, Hưng Yên. Là người nổi tiếng thần đồng, đỗ Hoàng giáp năm 15 tuổi (1304), cùng khoa với Mạc Đĩnh Chi, làm quan đến Hành khiển, đã từng đi sứ nhà Nguyên. Ông là người có công trong việc biên soạn bộ “Hình thư” và “Hoàng triều đại điển”; về già được thăng tước Thân Quốc Công. Ông là tác giả “Giới Hiên thi tập” với nhiều bài thơ, bài văn có giá trị.

* Trần Nguyên Đán, sinh năm Ất Sửu 1325, là danh sĩ nổi tiếng đời Trần, hiệu là Băng Hồ. Ông là chắt nội của Trần Quang Khải và là ông ngoại của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Đời Trần Dụ Tông (1341-1369), ông được bổ làm Ngự sử đại phu; đời Nghệ Tông lên chức Tư đồ, tước Chương Túc hầu. Ông sống vào lúc triều Trần đi vào buổi suy vi nên mang trong mình rất nhiều tâm sự. Năm Ất Sửu (1385) ông về Côn Sơn ở ẩn và mất sau đó 5 năm (năm 1390), thọ 65 tuổi. Ông là “cây cột chống trời” cuối cùng của nhà Trần, nên khi ông mất đi triều đình ngày càng nghiêng đổ và chỉ chưa đầy 10 năm sau nhà Trần đã bị Hồ Quý Ly cướp ngôi.

* Lê Lợi (Lê Thái Tổ), là hậu duệ của vua Lê Đại Hành, sinh ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu (10/9/1385) tại quê mẹ làng Chủ Sơn (Thủy Chú), huyện Lôi Dương, tỉnh Thanh Hóa, là con trai út của Hào trưởng Lê Khoán, người làng Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Mùa xuân năm Thân 1428, sai Nguyễn Trãi soạn Bình Ngô đại cáo, thay lời Bình Định Vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt. Đây là áng thiên cổ hùng văn, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.

Sau khi đánh thắng quân Minh xâm lược (1407 - 1428), ngày 14 tháng 4 năm 1428 Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi, hiệu là Thái Tổ Cao Hoàng Đế còn gọi là Lê Thái Tổ, đặt tên nước là Đại Việt, lập ra nhà Hậu Lê, truyền nối 27 đời vua, trị vì tổng cộng 360 năm, từ 1428 đến 1778, được coi là vương triều dài nhất trong lịch sử Việt Nam.

* Ngô Thị Ngọc Dao, sinh năm Tân Sửu 1421 tại Yên Định - Thanh Hoá, là con gái của cụ Ngô Từ, khai quốc công thần của vua Lê Thái Tổ và sau này được phong là Thái Bảo. Bà được vua Lê Thái Tông phong là Tiệp Dư. Năm 1442 bà sinh Hoàng tử Lê Tư Thành (sau này là vua Lê Thánh Tông). Bà là người am hiểu văn chương, đạo lý. Vua Lê Thánh Tông được lịch sử ca ngợi là vị vua anh minh, tài đức bậc nhất của lịch sử dân tộc, trong đó có công lao dạy dỗ to lớn của bà. Bà cũng chính là người cùng vua Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi và cho sưu tầm trước tác của Nguyễn Trãi để lại cho đời sau. Bà mất năm 1496.

* Đinh Văn Tả, sinh năm Tân Sửu 1601, là võ tướng xuất sắc triều Lê Trung Hưng, làm quan đến chức Tả Đô đốc, có công trung hưng nhà Lê. Mất năm 1680. Con cháu ông nối đời nổi tiếng về võ công. Dân gian truyền tụng câu “Đánh giặc họ Đinh” để chỉ gia tộc ông.

* Đặng Đình Tướng, sinh năm Kỷ Sửu 1649, quê Chương Đức, nay là Chương Mỹ, Hà Nội. Thuở nhỏ Đặng Đình Tướng học hành rất thông minh. Ông đỗ đầu kỳ thi Hương năm 20 tuổi. Năm sau, ông thi Hội đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670). Năm 1697 được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh. Sau khi đi sứ về ông được thăng chức Bồi tụng (đứng đầu hàng quan văn), sau đó thấy ông có tài thao lược, triều đình cử ông sang hàng quan võ với chức Thái phó (đứng đầu hàng quan võ); về sau ông được phong tước Ưng Quận Công. Ông là một vị quan tài ba và đức độ. Sau khi về nghỉ được tôn lên hàng Quốc lão, mất năm 1736, thọ 87 tuổi.

* Nguyễn Hữu Thận, sinh năm Đinh Sửu 1757, quê Triệu Phong, Quảng Trị. Là nhà toán học và danh sĩ nổi tiếng thời Nguyễn, làm quan triều Tây Sơn và Gia Long đến chức Thượng thư Bộ hộ, coi sóc Toà Khâm thiên giám. Nổi tiếng về toán học và thiên văn, mất năm 1831. Ông để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng như như: Ý Trai Toán pháp nhất đắc lực - Một điều tâm đắc về toán pháp của Ý Trai - tên hiệu của ông; Tam thiên tự lịch đại văn chú - Ba nghìn chữ chú giải văn chương các đời; Bách ti chức chế - nói về nhiệm vụ và thể chế các ti, sở của triều Nguyễn (biên tập chung với nhiều người).

* Tự Đức, sinh năm Kỷ Sửu 1829, chính tên là Nguyễn Hồng Nhậm, huý là Thì, con thứ hai của vua Thiệu Trị và mẹ là Phạm Thị Hằng (Từ Dũ Hoàng Thái Hậu sau này). Lên ngôi vua năm 1847 lấy niên hiệu là Tự Đức. Ông lên ngôi giữa lúc nước nhà đang đứng trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp nên đã có lỗi trong việc để mất Nam Kỳ nhưng bản thân ông là người uyên bác, cần kiệm, chăm chỉ trong chức vụ và có nhiều đóng góp cho nền văn hoá nước nhà. Đặc biệt ông là người con rất có hiếu. Tự Đức ở ngôi Hoàng đế 36 năm và băng hà ngày 16/6 năm Quý Mùi (1883) giữa cảnh đất nước ngổn ngang trăm mối, miếu hiệu là Dực Tôn anh Hoàng đế.

* Nguyễn Văn Tố, sinh năm Kỷ Sửu 1889, quê Hà Đông - Hà Nội, là học giả nổi tiếng làm việc nhiều năm tại Trường Viễn Đông Bác cổ; là Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ trước năm 1945. Sau Cách mạng Tháng tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội trong chính phủ Lâm thời và sau đó là Trưởng Ban Thường trực Quốc hội (như Chủ tịch Quốc hội hiện nay) Khoá 1 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tháng 10/1947, thực dân Pháp tấn công lên chiến khu Việt Bắc, ông bị địch bắt và giết hại.

* Nguyễn Thái Học, sinh năm Tân Sửu 1901 quê ở Vĩnh Phúc.Ông nổi tiếng là người trung kiên giàu lòng thương dân ái quốc.Ông là một trong những anh hùng dân tộc trong lịch sử cận đại là một trong những người khai sinh ra Việt Nam Quốc Dân Đảng.Người đề cao thể chế tự do dân chủ năm 1927. Ông là tấm gương sáng cho những tấm lòng yêu nước là nền móng cho sự phát triển tinh thần khởi nghĩa dân tộc.

* Trần Huy Liệu, sinh năm Tân Sửu 1901, quê Vụ Bản, Nam Định. Ông là nhà báo, nhà văn, nhà sử học, nhà hoạt động chính trị xuất sắc, là đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng nhưng sau này ly khai tổ chức này và gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông là người sáng lập ra Cường học thư xã ở Sài Gòn (1928), chuyên xuất bản sách và cổ vũ tinh thần yêu nước. Từng bị thực dân Pháp bắt và đưa đi đày ở Côn Đảo, Sơn La. Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được bầu là Phó Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc giải phóng. Sau đó ông được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền trong Chính phủ Lâm thời. Cuối tháng 8/1945, ông cùng Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận vào Huế tiếp nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại. Sau này ông chuyên tâm nghiên cứu khoa học lịch sử, làm Viện trưởng Viện Sử học và qua đời năm 1969. Ông được Viện Hàn lâm khoa học Cộng hoà Dân chủ Đức (cũ) mời làm viện sĩ. Năm 1996, ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về văn học nghệ thuật.

* Trịnh Đình Thảo, sinh năm Tân Sửu 1901, quê Hà Đông, là một luật sư và một nhà chính khách Việt Nam. Ông từng là Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Chính phủ Trần Trọng Kim (1945); nguyên Chủ tịch Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976); nguyên Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá VI (1976-1981).

* Phùng Chí Kiên sinh năm Tân Sửu 1901, quê Diễn Châu, Nghệ An, từng theo học các lớp huấn luyện cán bộ tại Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở; học viên trường võ bị Hoàng phố. Năm 1931, ông vào học đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mascova, được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương (1941). Hoạt động thường xuyên tại Hồng Kông, Côn Minh (Trung Quốc) và Cao Bằng. Ông là người chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn- Võ Nhai, bị thực dân Pháp bắt và xử tử bằng cách chặt đầu năm 1941. Ông là người học trò gần gũi và thân thiết của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, là một cán bộ tiền bối của Đảng và là nhà quân sự có tài./.