Các đơn vị thành viên

Quảng Ngãi: Mô hình sử dụng phân bón Ninh Bình cho năng suất lúa tăng 5–6,5 tạ/ha

09:06 SA @ Thứ Sáu - 28 tháng 8, 2026

Mô hình sử dụng bộ phân bón Ninh Bình trên cây lúa vụ hè thu 2026 tại Quảng Ngãi ghi nhận năng suất đạt 70–71,5 tạ/ha, cao hơn ruộng đối chứng từ 5–6,5 tạ/ha. Cây lúa sinh trưởng đồng đều, thân cứng, hạn chế đổ ngã, trong khi hiệu quả kinh tế được cải thiện.

Triển khai mô hình trên đồng ruộng

Vụ hè thu 2026, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với Công ty Cổ phần Phân lân Ninh Bình - Niferco triển khai mô hình sử dụng bộ phân bón Ninh Bình trên cây lúa với quy mô 2 ha tại xã Nghĩa Hành và xã Mộ Đức.

Mô hình được thực hiện trên chân đất thịt, độ phì từ trung bình đến khá, một số diện tích có biểu hiện nhiễm phèn nhẹ. Việc triển khai nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng phân bón, đồng thời kiểm chứng mức độ phù hợp của quy trình dinh dưỡng với điều kiện đất đai, mùa vụ và tập quán canh tác tại địa phương.

Theo quy trình kỹ thuật, phân chuồng kết hợp với phân lân nung chảy Ninh Bình được sử dụng để bón lót. Ở các giai đoạn sinh trưởng tiếp theo, cây lúa được bón thúc bằng NPK Ninh Bình 20-6-6+TE và NPKS Ninh Bình 16-5-17+6S+TE.

Việc bố trí các loại phân bón theo từng giai đoạn nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa từ khi bén rễ, hồi xanh, đẻ nhánh đến làm đòng và tích lũy năng suất.

Cây lúa sinh trưởng tốt trong điều kiện thời tiết bất lợi

Vụ hè thu 2026, sản xuất lúa tại Quảng Ngãi chịu tác động của thời tiết âm u, mưa dông kéo dài vào một số thời điểm quan trọng. Điều kiện này ảnh hưởng đến khả năng quang hợp, tích lũy chất khô của cây và làm gia tăng nguy cơ phát sinh sâu bệnh.

Qua theo dõi tại mô hình, cây lúa bén rễ, hồi xanh nhanh và đẻ nhánh tập trung. Bộ lá duy trì màu xanh tương đối ổn định, thân cây cứng, khả năng chống đổ ngã tốt. Đến giai đoạn trổ, cây sinh trưởng đồng đều, thời gian trổ tập trung.

So với một số diện tích ngoài mô hình, cây lúa trong mô hình ít bị ảnh hưởng hơn bởi điều kiện thời tiết. Một số ruộng ngoài mô hình xuất hiện tình trạng cây yếu, đổ ngã, bộ lá đòng bị khô héo đầu lá; mức độ phát sinh sâu bệnh cũng có sự khác biệt.

Ông Nguyễn Duy Đức, nông dân tham gia mô hình tại xã Nghĩa Hành, cho biết việc tuân thủ quy trình bón phân tạo ra sự khác biệt khá rõ trên đồng ruộng. Cây lúa duy trì màu xanh ổn định trong quá trình sinh trưởng, đến cuối vụ chín tương đối đồng đều, thân cứng và đứng vững.

“Ruộng mô hình cho thấy cây lúa khỏe, cứng cây, ít bị ảnh hưởng hơn. Năng suất ước đạt khoảng 70 tạ/ha, cao hơn so với mức bình quân khoảng 65 tạ/ha mà gia đình thường đạt trước đây”, ông Đức chia sẻ.

Năng suất tăng, hiệu quả kinh tế được cải thiện

Kết quả thu hoạch cuối vụ cho thấy năng suất lúa tại các điểm triển khai mô hình đều cao hơn ruộng đối chứng.

Tại Nghĩa Hành, năng suất đạt 71,5 tạ/ha, cao hơn 6,5 tạ/ha. Tại Mộ Đức, năng suất đạt khoảng 70 tạ/ha, cao hơn khoảng 5 tạ/ha. Như vậy, năng suất tại mô hình đạt từ 70–71,5 tạ/ha, cao hơn ruộng đối chứng từ 5–6,5 tạ/ha.

Báo cáo tổng kết mô hình cũng ghi nhận sự cải thiện ở một số yếu tố cấu thành năng suất như số bông, số hạt chắc và khả năng tích lũy chất khô.

Hiệu quả kinh tế được cải thiện cùng với năng suất. Tại Nghĩa Hành, tổng chi phí trực tiếp của ruộng mô hình khoảng 32,18 triệu đồng/ha, thấp hơn ruộng ngoài mô hình khoảng 460.000 đồng/ha. Với năng suất đạt 71,5 tạ/ha, doanh thu khoảng 45,045 triệu đồng/ha, lợi nhuận đạt 12,865 triệu đồng/ha.

Tại Mộ Đức, lợi nhuận của mô hình đạt khoảng 11,92 triệu đồng/ha. Tính bình quân, mô hình cho lợi nhuận cao hơn ruộng đối chứng khoảng 4,095 triệu đồng/ha.

Hiệu quả phân bón gắn với quy trình sử dụng

Bà Nguyễn Thị Dương Lộc, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi, đánh giá kết quả mô hình cho thấy bộ sản phẩm phân lân nung chảy và NPK Ninh Bình cung cấp dinh dưỡng phù hợp với cây lúa trong điều kiện sản xuất tại địa phương. Cây lúa sinh trưởng đồng đều, thân cứng, khả năng chống đổ ngã tốt và hiệu quả kinh tế được cải thiện.

Theo bà Lộc, kết quả mô hình là cơ sở thực tế để các đơn vị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy trình và xem xét khả năng triển khai tại những vùng sản xuất có điều kiện tương đồng.

Bà Nguyễn Thị Dương Lộc, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi đề nghị Công ty CP Phân lân Ninh Bình tiếp tục phối hợp với Trung tâm triển khai mô hình ở một số địa phương khác trên địa bàn tỉnh

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ngãi đồng thời đề nghị tiếp tục nghiên cứu các mức bón khác nhau để xác định lượng phân phù hợp, vừa bảo đảm năng suất, vừa tiết kiệm chi phí đầu tư và hạn chế nguy cơ dư thừa dinh dưỡng.

Đây cũng là hướng tiếp cận được Công ty Cổ phần Phân lân Ninh Bình chú trọng trong quá trình triển khai các mô hình sản xuất. Theo đại diện doanh nghiệp, hiệu quả của phân bón cần được kiểm chứng trực tiếp trên đồng ruộng, trong điều kiện cụ thể của từng vùng đất, cây trồng và mùa vụ.

“Thông qua mô hình, chúng tôi mong muốn không chỉ giới thiệu sản phẩm, mà quan trọng hơn là cùng cán bộ kỹ thuật và bà con nông dân kiểm chứng hiệu quả của một quy trình dinh dưỡng toàn diện ngay trên đồng ruộng”, ông Phan Như Diễm, đại diện Công ty Cổ phần Phân lân Ninh Bình, cho biết.

Là đơn vị thành viên của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), Công ty Cổ phần Phân lân Ninh Bình phối hợp với các cơ quan chuyên môn, hệ thống khuyến nông và ngành nông nghiệp địa phương triển khai các mô hình sử dụng phân bón trên cây trồng. Qua thực tế sản xuất, doanh nghiệp có thêm cơ sở để đánh giá hiệu quả sản phẩm, hoàn thiện hướng dẫn sử dụng và lựa chọn quy trình phù hợp với từng điều kiện canh tác.

Kết quả tại Quảng Ngãi cho thấy hiệu quả của phân bón không chỉ phụ thuộc vào từng sản phẩm mà còn gắn với cách xây dựng và thực hiện quy trình dinh dưỡng. Việc lựa chọn sản phẩm, xác định thời điểm và lượng bón phù hợp với nhu cầu của cây trồng, đặc điểm đất đai và mùa vụ có ý nghĩa quan trọng đối với năng suất và hiệu quả đầu tư.

Từ kết quả mô hình, việc tiếp tục nghiên cứu các mức bón, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và xây dựng mô hình phù hợp với từng điều kiện sản xuất sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, tiết kiệm chi phí và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất nông nghiệp.