


I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.1. Quan điểm về vai trò sức mạnh của đạo đức
1.1.1. Đạo đức là gốc của cách mạng:
Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, nhà lãnh đạo, đã bàn nhiều về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng. Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Chủ Tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của người cách mạng, Người khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển của con người, Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”.
Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có đức là người vô dụng nhưng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Cũng theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong mọi thử thách. Bởi lẽ, sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp rất to lớn, khó khăn và nặng nề, con đường đi đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường dài, không phải là một đại lộ thẳng tắp. Nó đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi người, mỗi thế hệ, hơn nữa còn của nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Nếu không có đạo đức cách mạng làm nền tảng, người cán bộ có thể mềm lòng, nản chí, xuôi tay. V.I.Lênin: Đảng cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Trong di chúc Người căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
1.1.2 Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội:
Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội không phải ở lý tưởng cao xa nào, mà trước hết, sức hấp dẫn đó nằm ở những giá trị đạo đức cao đẹp, nằm ở phẩm chất của những người cộng sản ưu tú bằng tấm gương sống và hành động của mình biến những lý tưởng của chủ nghĩa xã hội trở thành hiện thực. Hồ Chí Minh cho rằng phong trào cộng sản công nhân quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không chỉ do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch. Tấm gương đạo đức trong sáng của một nhân cách vĩ đại nhưng cũng rất đỗi đời thường của Chủ tịch Hồ Chí Minh có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ không chỉ đối với nhân dân Việt Nam mà còn cả với nhân dân thế giới. Tấm gương đó chính là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần hết sức quan trọng đối với nhân dân ta là điểm sáng cho mỗi người học tập và noi theo.
1.2. Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng
1.2.1. Trung với nước hiếu với dân:
Trong Nho giáo khái niệm “trung-hiếu” là trung với vua, hiếu với cha mẹ. Đây là một nguyên tắc cơ bản trong chế độ phong kiến ở Việt Nam, là qui phạm đạo đức cơ bản đương thời, thái độ, cách ứng xử của người dân trong xã hội phong kiến phải tuân theo chuẩn mực cơ bản này. Từ đó Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước hiếu với dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung là trung với nước, trung thành với lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc. Người cho rằng, người cách mạng phải đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên hết và trước hết. Trung với nước ở Hồ Chí Minh trở thành lẽ sống tự nhiên. Người cho rằng, mỗi người trong xã hội đều có một công việc cụ thể, một nhiệm vụ cụ thể và nếu hoàn thành tốt công việc của bản thân thì đã là trung. Về chữ hiếu, theo Hồ Chí Minh, là hiếu với dân. Hiếu với dân không phải chỉ là hiếu với cha mẹ mình như người xưa vẫn nói, mà là hiếu với nhân dân, với toàn dân tộc. Hiếu với dân là nội dung rất cơ bản trong đó hiếu với cha mẹ mà rộng ra là hiếu với làng xóm, với nhân dân. Trung với nước là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trung thành với con đường đi lên của đất nước; là suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách mạng. Trung với nước, hiếu với dân theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện trong mọi công việc cách mạng của Ðảng, trong từng suy nghĩ, việc làm cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân. Dù trong từng thời kỳ khác nhau, mục tiêu cách mạng khác nhau nhưng yêu cầu về trung, hiếu vẫn luôn nhất quán, trở thành tiêu chí chung của người cán bộ, đảng viên và nhân dân học tập, rèn luyện.
1.2.2. Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư:
Đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người, là đại cương đạo đức Hồ Chí Minh. Đề ra cần kiệm liêm chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo là để đem lại hạnh phúc cho dân. Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cũng là một biểu hiện cụ thể, một nội dung của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, là mối quan hệ “với tự mình”.
Tháng 3 năm 1947 do nhu cầu “kháng chiến, kiến quốc” Hồ Chí Minh kêu gọi thi đua xây dựng “đời sống mới là cần, kiệm, liêm, chính” và giải thích rõ ràng từng khái niệm. Tháng 6 năm 1949 Bác viết tác phẩm “Cần, kiệm, liêm, chính” để răn dạy cán bộ về đạo đức. Bác quan niệm cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là bốn đức tính của con người, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương, Bác viết: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính Thiếu một mùa thì không thành trời Thiếu một phương thì không thành đất. Thiếu một đức thì không thành người” Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biến, không ỉ lại, không dựa dẫm. Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức, …”. Cần, kiệm là phẩm chất của tất cả người lao động trong đời sống, trong công tác. Liêm là trong sạch, là “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”; không tham địa vị, không tham tiền tài, …”. Liêm là phẩm chất của người cán bộ trong thi hành công vụ. Chính là ngay thẳng, không tà, là đúng đắn, chính trực. Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, “việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác dù nhỏ mấy cũng tránh”. Chí công là rất mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòng riêng, thiên tư, thiên vị “tư ân, tư huệ, hoặc tư thù, tư oán”, đem lòng chí công, vô tư đối với người, với việc. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Muốn “chí công vô tư” phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân.
Đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là một nội dung của cái gốc đạo đức, cái gốc của sự phát triển trong triết lý hành động của Hồ Chí Minh. Người mà nói và viết về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư nhiều nhất, người mà kêu gọi mọi người thực hành và tự mình “xắn tay áo” lên để thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư nhiều nhất chính là Hồ Chí Minh. Có rất nhiều những tác phẩm, những bài viết, những chuyện kể ghi lại đức tính cao đẹp này của Bác như một bài học quý giá Người để lại cho thế hệ sau.
1.2.3. Thương yêu con người, sống có nghĩa có tình:
Hồ Chí Minh cho rằng, trên đời này có hàng muôn triệu người, hàng trăm nghìn công việc nhưng có thể chia thành hai hạng người: người Thiện và người Ác, và hai thứ việc: việc Chính và việc Tà. Có lúc Người khái quát hai hạng người đó là hạng người đi áp bức bóc lột và hạng người bị áp bức bóc lột. Yêu thương con người được Hồ Chí Minh xác định là một trong những phẩm chất tốt đẹp nhất. Người nói, người cách mạng là người giàu tình cảm, có tình cảm cách mạng mới đi làm cách mạng. Vì yêu thương nhân dân, yêu thương con người mà chấp nhận mọi gian khổ, hy sinh để đem lại độc lập, tự do, cơm áo ấm no và hạnh phúc cho con người. Tình yêu thương đó là một tình cảm rộng lớn, trước hết dành cho những người nghèo khổ, những người bị mất quyền, những người bị áp bức, bị bóc lột không phân biệt màu da, dân tộc. Người cho rằng, nếu như không có tình yêu thương như vậy thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Tình thương yêu con người phải được xây dựng trên lập trường giai cấp công nhân, thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày với bạn bè, đồng chí, anh em…nó đòi hỏi mỗi người phải chặt chẽ và nghiêm khắc với mình; rộng rãi, độ lượng với người khác. Nó đòi hỏi thái độ tôn trọng những quyền của con người, nâng con người lên, kể cả những người nhất thời lầm lạc.
1.2.4. Có tinh thần quốc tế trong sáng:
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn và sâu sắc. Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng và phân biệt chủng tộc; chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sôvanh, biệt lập và chủ nghĩa bành trướng bá quyền…Hồ Chí Minh chủ trương giúp bạn là tự giúp mình. Hồ Chí Minh yêu thương những con người đang sống trên trái đất này. Đó là tình yêu thương gắn liền với hành động cụ thể để mang lại cơm ăn, nước uống, trả lại nhân phẩm cho con người. Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh vượt ra ngoài phạm vi dân tộc, mang tính nhân loại, vừa bốn biển năm châu, vừa bốn phương vô sản. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, đã tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: Đối thoại thay cho đối đầu, nhằm kiến tạo một nền văn hoá hoà bình cho nhân loại.
1.3. Quan điểm về nguyên tắc xây dựng đạo đức mới:
1.3.1. Nói đi đôi với làm, phải nêu gương đạo đức:
Nói đi đôi với làm tức là nói phải làm, nói thế nào, làm thế ấy, là biểu hiện kết quả của lời nói. Đó là sự thống nhất giữa suy nghĩ và hành động cụ thể, thể hiện lập trường tư tưởng nhất quán, kiên định vững vàng và hiệu quả công tác cao. Nói đi đôi với làm tưởng rằng dễ, nhưng lại là một yêu cầu rất cao, không phải ai, lúc nào, ở đâu cũng làm được. Nói đi đôi với làm chính là sự nêu gương tuyệt vời mà ai cũng nể phục, tin cậy.
Nói đi đôi với làm, Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong xây dựng một nền đạo đức mới. Nói nhưng không làm là đặc trưng đạo đức của giai cấp bóc lột. Lời nói phải đi đôi với việc làm và thực hành đạo làm gương là đạo đức của người cách mạng nói chung, nằm trong vốn văn hoá phương Đông nói riêng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến.” Bản thân Hồ Chí Minh là tấm gương sáng tuyệt vời về lời nói đi đôi với việc làm. Trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh có biết bao câu chuyện cảm động về việc nêu gương, nói đi đôi với làm, tự mình làm trước. Năm 1946, để tăng cường sức khỏe cho nhân dân, Bác kêu gọi toàn dân tập thể dục. Bản thân Người là tấm gương “Tự tôi ngày nào cũng tập”. Ngay sau cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biểu hiện của thói đạo đức giả ở một số cán bộ, “vác mặt làm quan cách mạng’, nói mà không làm. Sau này Người cũng nhiều lần bàn đến việc tẩy sạch bệnh “quan liêu”, coi thường quần chúng của một bộ phận cán bộ Đảng viên. Nêu gương đạo đức là một nét đẹp của truyền thống văn hoá Phương Đông. Nói đi đôi với làm phải gắn liền với nêu gương về đạo đức. Hồ Chí Minh đã có lần chỉ rõ: “nói chung thì các dân tộc Phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Với ý nghĩa đó, Hồ Chí Minh đã đào tạo các thế hệ cán bộ Việt Nam không chỉ bằng lý luận cách mạng tiên phong, mà còn bằng chính tấm gương đạo đức cao cả của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Người dân chỉ tin và nghe theo lời của những cán bộ có tư cách đạo đức. Muốn dân tin và nghe theo thì cán bộ, Đảng viên phải là người tiên phong đi đầu, làm gương cho quần chúng. Thời gian trôi qua, những câu chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” vẫn còn vẹn nguyên. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là tấm gương sáng chói cho mọi thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là thanh niên học tập và noi theo.
1.3.2 Xây đi đôi với chống:
Để xây dựng một nền đạo đức mới, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống. Trong đời sống hang ngày, những hiện tượng tôt- xấu, đúng – sai, cái đạo đức và cái vô đạo đức thường đan xen nhau, đối chọi nhau thông qua hành vi của những con người khác nhau, thậm chí trong mỗi con người. Chính vì vậy, việc xây và chống trong lĩnh vực đạo đức rõ ràng không đơn giản. Xây phải đi đôi với chống, muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây. Để xây và chống có hiệu quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động rất nhiều phong trào như vậy. Đó là phong trào thi đua thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu (năm 1952); đó là phong trào: 3 xây, 3 chống” năm 1963)... Có phong trào, có cuộc vận động cho toàn Đảng, toàn dân; nhưng lại có phong trào, có cuộc vận động riêng cho từng ngành, từng giới. Thông qua đó mà lôi cuốn mọi người vào cuộc đấu tranh nhằm xây gì, chống gì rất cụ thể, rõ ràng để mọi người phấn đấu, tự bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng.
Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cái xấu, cái vô đạo đức trong đời sống hàng ngày, Hồ Chí Minh cho rằng, trên con đường đi tới tiến bộ và cách mạng, đạo đức chỉ mới có thể được xây dựng thành công trên cơ sở kiên trì mục tiêu chống chủ nghĩa đế quốc, chống những thói quen, tập quán lạc hậu và loại trừ chủ nghĩa cá nhân. Đây thực sự là “một cuộc chiến đấu khổng lồ” giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa cách mạng và phản cách mạng. Để giành được thắng lợi trong cuộc chiến đấu này, điều quan trọng là phải phát hiện sớm, phải tuyên truyền, vận động hình thành phong trào quần chúng rộng rãi đấu tranh cho sự lành mạnh, trong sạch về đạo đức.
1.3.3. Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời:
Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Bởi mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt hàng ngày, đó là công việc kiên trì, bền bỉ suốt đời. Hồ Chí Minh đưa ra một lời khuyên rất dễ hiểu: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Đạo đức cần phải rèn dũa mỗi ngày thông qua hoạt động thực tiễn, qua công việc, các mối quan hệ. Mỗi người cần nhìn thẳng vào chính mình, thừa nhận những khuyết điểm để sửa đổi, tu bổ, trau dồi, tránh trường hợp huyễn hoặc bản thân, lừa dối chính mình, né tránh điểm yếu.
II. Thực trạng rèn luyện đạo đức xã hội hiện nay đối với Đảng viên
2.1 Thực trạng rèn luyện đạo đức đối với Đảng viên:
Trong phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là “nền tảng”, là “cái gốc” cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn là việc làm thường xuyên quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, trong đó, việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên được xem là khâu then chốt, một mục tiêu mà Đảng ta cần phấn đấu, làm cho Đảng luôn xứng đáng với toàn dân. Xây dựng Đảng về đạo đức thể hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng Đảng về
chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Trong phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng văn hóa Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra ngay từ khi chuẩn bị thành lập Đảng, cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” Xây dựng Đảng về đạo đức là làm cho mỗi đảng viên ngày càng trưởng thành hơn, luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, thực sự là tấm gương sáng trước quần chúng, trước tập thể cơ quan, đơn vị mình… góp phần xây dựng Đảng ta trở thành một Đảng chân chính, vĩ đại, thực sự văn hóa, văn minh.
2.2. Việc rèn luyện đạo đức xã hội đối với Đảng viên hiện nay cần được chú trọng hơn nữa:
Thời gian tới, hoạt động nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta đang và sẽ chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang dần hoàn thiện, bên cạnh những tác động tích cực thì còn có tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên; sự chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên suy giảm lý tưởng, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, suy giảm đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ.
Tại Đại hội XI của Đảng, Đảng ta đã xác định một trong ba nội dung lớn để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác; kiên quyết loại bỏ những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân. Tại Đại hội XII của Đảng, Đảng ta tiếp tục xác định một trong bốn nội dung lớn để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới...; khuyến khích cán bộ, đảng viên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm.
Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng Đảng, có được một đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có năng lực, vừa có đức, vừa có tài, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới, cần quan tâm nâng cao đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay. Theo đó, cần tập trung làm tốt một số nội dung sau:
- Thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi người dân nói chung, cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng về đạo đức cách mạng, về đạo đức công vụ, về Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, nhất là tiếp tục tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.
- Để phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng, vai trò quản lý của chính quyền và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, của nhân dân trong việc nâng cao đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống các chuẩn mực, quy tắc, nguyên tắc, hành vi trong hoạt động công vụ của cán bộ, đảng viên và đạo đức công vụ đã được quy định ở Luật Cán bộ, công chức, Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.... Nêu cao tinh thần tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực thi công vụ; thông qua học tập, rèn luyện và thực tiễn thực thi công vụ để tự bồi dưỡng, tự rèn luyện nâng cao đạo đức công vụ. Khuyến khích tính năng động, sáng tạo của cán bộ, đảng viên trong hoạt động công vụ với việc bảo đảm chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp; trọng dụng người tài, thực hiện tốt nguyên tắc công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và trách nhiệm.
- Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, giám sát các hoạt động của cán bộ, đảng viên trong quá trình thực thi công vụ để hạn chế tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức công vụ. Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải nghiên cứu, đổi mới hình thức giáo dục cho phù hợp. Đặc biệt coi trọng “phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu”, nghĩa là, phải phát huy vai trò gương mẫu, nói đi đôi với làm của từng cấp ủy viên và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng trong xây dựng, tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, phương pháp, tác phong, văn hóa Đảng. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải gương mẫu về đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên noi theo; đảng viên đi trước phải làm gương cho đảng viên đi sau; đảng viên giữ cương vị, chức vụ càng cao thì phải càng gương mẫu, trong sáng về đạo đức cách mạng. Có như vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống, xây dựng Đảng mới đạt hiệu quả thiết thực.
Xây dựng Đảng về đạo đức thực tế là xây dựng đạo đức với xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và cán bộ, đảng viên cần phải hết sức quan tâm thực hành rộng rãi dân chủ trong Đảng, phải nghiêm chỉnh thực hành tự phê bình và phê bình, thường xuyên lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của người dân về xây dựng Đảng, thực hiện sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên.
Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Đây là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Muốn vậy phải xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ, thực sự có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. Đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học trước, làm theo trước để nêu gương của người đứng đầu và cán bộ chủ chốt các cấp, của cán bộ, đảng viên về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Gắn học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII xác định và đẩy mạnh việc phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên sai phạm, đồng thời tăng cường tuyên truyền, biểu dương, gương mẫu những cán bộ, đảng viên tốt có tinh thần trách nhiệm xây dựng Đảng về đạo đức. Mỗi cán bộ, đảng viên tăng cường tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, đề cao vai trò gương mẫu trong xây dựng và thực hiện xây dựng Đảng về đạo đức, lối sống, thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, ra sức phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; không ngừng tự rèn luyện đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục thực hiện đề cao vai trò gương mẫu nêu gương sáng về phẩm chất, đạo đức, trí tuệ của mỗi cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ người đảng viên. Thường xuyên rèn luyện, không ngại khó khăn, làm cho việc tự tu dưỡng, rèn luyện của đảng viên là nhu cầu không thể thiếu được trong xây dựng Đảng về đạo đức.
Thực hiện tốt những nội dung trên sẽ làm cho cán bộ, đảng viên tự rèn luyện phong cách lãnh đạo, quản lý cho mình, rèn luyện phẩm chất đạo đức. Xây dựng Đảng ta về đạo đức trong giai đoạn hiện nay thực sự là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân, hoàn thành những trọng trách của mình trước nhân dân và dân tộc. Xây dựng Đảng về đạo đức là trách nhiệm của toàn Đảng từ Trung ương đến cơ sở, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng.
III. Kết luận
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức có giá trị trường tồn cùng với thời gian, đây là bài học to lớn, quý báu cho thế hệ sau noi theo học tập không chỉ dành cho cán bộ nhà nước mà là cho cả dân tộc. Đạo đức Hồ Chí minh là đạo đức cách mạng nêu cao chủ nghĩa tập thể, tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, chí công vô tư. Dưới ngọn cờ của tư tưởng đó, trong từng giai đoạn cách mạng, thế hệ trẻ Việt Nam đã lập được nhiều kỳ tích to lớn, đóng góp vào tiến trình chung của lịch sử dân tộc. Ngày nay, việc học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của cán bộ, Đảng viên và toàn thể nhân dân mà đặc biệt là thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước càng phải được chú trọng, ưu tiên hơn nữa. Từ nền tảng vững chắc về tư tưởng, đạo đức mới có thể xây dựng và phát triển đất nước ngày một tiến bộ, ngày một phồn vinh theo con đường chủ nghĩa xã hội, dưới lá cờ của Đảng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc./.